Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Dưới đây là các bài dịch của Đất Văn Lang. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 51 trang (510 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Hữu cảm kỳ 2 (Nguyễn Khuyến): Bản dịch của Đất Văn Lang

Cái nghèo cái bệnh hành dai dẳng
Nhờ các đồng liêu xúm xít thăm
Người cõng gạo sang sai trẻ nấu
Người đem rượu đến chỗ ta nằm
Chưa quen lắm kẻ liền khinh khổ
Tri kỷ nào ai nỡ trách tham
Mưa gió sáng nay đường cách trở
Đành xa xăm vọng bến sông nam


Ảnh đại diện

Hữu cảm kỳ 1 (Nguyễn Khuyến): Bản dịch của Đất Văn Lang

Ngẫm đời dâu biển đau lòng quá
Suy thịnh thăng trầm cõi hỗn mang
Cuộc thế khai bừng thời vận mới
Nhân tình chìm đắm cõi hồng hoang
Ai người xoay chuyển khung trời đất
Đừng vội chê cười đạo Lão Trang
Tâm sáng chí đầy thân lại lão
Về vườn tùng cúc bước thênh thang


Ảnh đại diện

Hung niên kỳ 5 (Nguyễn Khuyến): Bản dịch của Đất Văn Lang

Hạn dữ trước đông, đồng thất trắng
Hè này gió rét tợ thu sang
Cháo thừa giữa mộ từng ăn chớ,
Rượu cặn đáy vò liệu uống chăng?
Quốc vận nếu liền gia vận nhỉ,
Đại quan đáng gọi lợn quan chăng?
Đừng than vặt vãnh vì no đói
Cùng cực thì ông mới khác thằng


Ảnh đại diện

Hung niên kỳ 4 (Nguyễn Khuyến): Bản dịch của Đất Văn Lang

Tháng bốn hay mười, sương đậm quá?
Thử Ly nào gợi khách sầu lo.
Tuổi già, nhà khó, thân suy kiệt,
Thời loạn, thân cùng, lúa hạn khô.
Áo tía lòng không hề mộng tưởng,
Da mồi bụng vẫn chỉ cơm ngô.
Khi say khướt rượu bên hàng xóm,
Hứng khởi cuồng lên, khản giọng hò.


Ảnh đại diện

Hung niên kỳ 3 (Nguyễn Khuyến): Bản dịch của Đất Văn Lang

Mưa giật cửa song tràn gió lạnh
Tung chăn ngồi dậy, sầu khôn ngơi
Chỉ nghe mụ xóm cầu mùa trúng
Không thấy già làng rót rượu mời
Sông núi quê xưa màu ảm đạm
Nhạn hồng đất khách buồn chơi vơi
Lạ kìa, có kẻ no phè phỡn
Mộ cúng đâu mà chúng được xơi?


Ảnh đại diện

Hoàng cử nhân bị tương ngưu tửu lai yết (Nguyễn Khuyến): Bản dịch của Đất Văn Lang

Dịch nghĩa:
Lệnh mổ bò ở chợ còn chưa nới,
Rượu đã hiếm lại đắt, khó kiếm được như lan hương.
Nếu không nhờ văn chương (bình giải) của phe ta báo cáo (khen ngợi),
Thì làm sao có được mâm rượu thịt (của ông)!
Chắc là vội đãi mấy cậu nên có thịt bò béo
Còn vui cùng bạn cũ thì rượu ngon này rất hợp
Khuyên ông hãy say sưa no nê, chẳng cần gò bó,
Vì thịt bò đã khó, mà rượu lại càng khó hơn.

°°°
Bài này hàm ý mỉa mai rằng, chẳng phải vì học trò quí hoá gì thầy đâu, chẳng qua là đãi bên nhà vợ rồi nhân tiện trả cái công phe nhà đã nâng đỡ khi chấm thơ, nên mới mổ bò, đãi rượu vậy thôi.

Dịch thơ:
Chợ cấm mổ bò, lệnh vẫn đang...
Rượu khan giá đắt, quí hơn vàng.
Văn bài nếu chẳng ai nâng đỡ,
Rượu thịt chắc gì ông gởi sang!
Bò béo vội khao nhà vợ chắc,
Rượu ngon hợp đãi bạn xưa chăng?
Ông đừng khách khí, no say nhé,
Xoay được mâm này cũng giỏi dang!


Ảnh đại diện

Hoạ đáp Hoàng tham tri tặng hồi nguyên vận (Nguyễn Khuyến): Bản dịch của Đất Văn Lang

Dịch nghĩa:
Lại ra làm quan thì đâu còn lòng gì ham chức tước.
Huống chi mười năm nay đã khổ sở vì hai thằng giặc bệnh (tạng và phủ).
Như Đỗ Phủ thời loạn lạc thường ngâm than khổ.
Như Đào Tiềm về ở Bành Trạch đã lâu, ưa cảnh nhàn.
Đôi mắt già bao lần kinh hãi trước sự biến đổi như biển cả.
Phần đời còn lại, nay thích hợp để trở về núi.
Việc cứu đời trông nhờ vào sức các công hầu.
Không còn được việc gì, xin khép kín mãi cửa tranh.
------
Thiếu Lăng (少陵): nơi Đỗ Phủ từng ở, và lấy tên hiệu.
Bành Trạch (彭澤): nơi Đào Tiềm hiệu là Uyên Minh từng làm huyện lệnh, được dùng để chỉ chính Đào Tiềm.

°°°
Dịch thơ:

Chẳng chút lòng nào hám tước quan
Mười năm phủ tạng quấy râm ran
Ngâm thơ Đỗ Phủ than thời loạn
Về ẩn Uyên Minh hưởng cảnh nhàn
Mắt lão bao lần kinh biến đổi
Đời thừa còn lại thích bình an
Cứu đời mong ở chư ông cả
Bất lực, tôi đành khép cửa nan.


Ảnh đại diện

Khách trung tác (Lý Bạch): Bản dịch của Đất Văn Lang

Chén ngọc tràn men màu hổ phách
Lan Lăng thơm vị uất kim hương
Chủ mà khéo đãi say mèm khách
Thì cảnh quê người nhẹ vấn vương


Ảnh đại diện

Cổ ý (Thôi Quốc Phụ): Bản dịch của Đất Văn Lang

Thềm vàng sạch bóng nằm im
Sương thu như tuyết lặng chìm vào đêm
Tiếng đàn gợi nỗi sầu thêm
Mắt buồn chẳng dám vén rèm nhìn trăng.


Ảnh đại diện

Cổ ý (Thôi Quốc Phụ): Bản dịch của Đất Văn Lang

Thềm thu sạch tợ băng
Sương trắng rơi như tuyết
Ngồi rải phím buông rèm
Tránh nhìn lên bóng nguyệt


Trang trong tổng số 51 trang (510 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ... ›Trang sau »Trang cuối