Trang trong tổng số 14 trang (131 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Độc dịch (Nguyễn Khuyến): Bản dịch của Đỗ Ngọc Toại

Ngày đông ngắn, ngày hè dằng dặc,
Gió nam qua, gió bắc tiếp theo.
Được mồi, thấy phượng cú kêu,
Sẻ rình bọ ngựa cơ mưu khôn lường.
Thế giới tựa bước sang hội mới,
Dân phong như trở lại hồng hoang.
Sáng đem kinh Dịch xem tường,
Đầy vơi cơ tạo, dễ lường được đâu.


Nguồn: Đỗ Ngọc Toại, Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 1971
Ảnh đại diện

Phùng nhập kinh sứ (Sầm Tham): Bản dịch của Nguyễn Tôn Nhan

Vườn xưa ngoảnh lại xa muôn vàn,
Tay áo già nua lệ chứa chan.
Trên ngựa gặp nhau không giấy bút,
Nhờ người nhắn lại tớ bình an.

Ảnh đại diện

Nhị vật (Hồ Chí Minh): Bản dịch của Phan Văn Các

Thuốc không, rượu chẳng có mừng xuân,
Dễ khiến thi nhân hoá tục nhân.
Trong mộng, thuốc thơm và rượu ngọt,
Tỉnh ra thêm phấn chấn tinh thần.


Nguồn: Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh, Phan Văn Các biên dịch, NXB Văn học, 1990
Ảnh đại diện

Ký phu (Trần Ngọc Lan): Bản dịch của Trần Trọng San

Thiếp ở đất Ngô, chồng lính thú,
Gió thu thổi thiếp, thiếp lo chồng.
Một hàng thư gửi, muôn hàng lệ,
Lạnh đến bên chàng, áo đến không?

Ảnh đại diện

Ký phu (Trần Ngọc Lan): Bản dịch của Nguyễn Khuê (II)

Chồng biên ải, thiếp đất Ngô,
Gió Tây thổi thiếp, thiếp lo cho chồng.
Thư một dòng, lệ nghìn dòng,
Bên chàng lạnh đến, áo cùng đến không?

Ảnh đại diện

Hồng Hồng, Tuyết Tuyết (Dương Khuê): về một bản hiệu đính khác của bài thơ!

Sau đây là bản hiệu đính bài "Hồng Hồng, Tuyết Tuyết" của học giả  Nguyễn Quảng Tuân:

Hồng Hồng, Tuyết Tuyết

(Gặp lại cô đầu cũ)

  Hồng Hồng, Tuyết Tuyết!
Nhớ ngày  nào chửa biết cái chi chi.
Mới dăm  năm thấm thoắt có xa gì,
Ngoảnh mặt lại đã đến kỳ tơ liễu.
我曩遊時君尚少﹐
君今許嫁我成翁。
Ngã nẵng du thời quân thượng thiếu,
Quân kim hứa giá ngã thành ông.
Cười cười, nói nói sượng sùng,
Mà bạch phát hồng nhan chừng ái ngại.
Riêng một thú thanh sơn đi lại,
Khéo ngây ngây, dại dại với tình.
  Đàn ai một tiếng dương tranh.

(Dương Khuê)


Ông Dương Thiệu Tống, cháu cụ Dương Khuê, cũng đã có nhận xét rằng: "Nếu xưa kia, tác giả (Dương Khuê) có gặp cô đào nào tên là Tuyết hay Hồng thì vào lúc ấy cô gái ít nhất cũng 13 tuổi (nữ thập tam) thì mới "muốn lấy ông" được và 15 năm sau thì cô gái ấy cũng 28 tuổi rồi, không thể nói là "tới kỳ tơ liễu" được nữa". Như vậy câu thứ 2 và thứ 3 cần được sửa là:
Nhớ ngày  nào chửa biết cái chi chi,
Mới dăm  năm thấm thoắt có xa gì?
thì mới hợp lý.

Nguồn: Nguyễn Quảng Tuân, Ca trù - Thơ nhạc giao duyên, NXB TP. Hồ Chí Minh, 2008.
Ảnh đại diện

Hữu sở cảm (Phạm Đình Hổ): về nguyên văn chữ Hán bài thơ "Hữu sở cảm 有所感" của Phạm Đình Hổ.

Theo Tiêu Đồng, các bạn nên bổ sung mấy điểm sau:

1. Bổ sung tên chữ Hán của Phạm Đình Hổ là: 范廷琥。
2. Tên tự là TÙNG NIÊN: 松年, ông còn có tên tự là KIỀU NIÊN 喬年 và BỈNH TRỰC 秉直, ông hiệu là ĐÔNG DÃ TIỀU 東野樵。
3. Chữ “nha 丫” ở câu thứ 2, chữ thứ 4 có thể phiên là: “a 丫”.
4. Sau đây là nguyên văn chữ Hán bài thơ Hữu sở cảm 有所感 của Phạm Đình Hổ:

長安小兒女,
纖手綰丫鬟。
深閨不知苦,
猶掃落花看。
長安小兒女,
眉黛月雙彎。
為愛梅花潔,
臨風不覺寒。
長安小兒女,
花前獨倚欄。
祇怕檀郎聽,
橫琴笑不彈。

Chú thích:
1. Trường An vốn là nơi đóng đô của nhiều triều đại Trung Quốc. Trong bài thơ này, Trường An được dùng để chỉ kinh đô Thăng Long.
2. Ở câu thứ 2, “quán a hoàn 綰丫鬟”: Quấn hai búi tóc nhỏ ở hai bên đầu theo hình chữ Y, đó là kiểu quấn tóc của các thiếu nữ thời xưa.


Nguồn:
1. Trịnh Khắc Mạnh, Tên tự, tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam, NXB VHTT, 2007.
2. Đặng Đức Siêu, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 14, NXB KHXH, 2000.
Ảnh đại diện

Thư Đoan Châu quận trai bích (Bao Chửng): Bài thơ duy nhất còn lại của Bao Công

Bao Chửng 包拯 (999 - 1062), tự Hy Nhân 希仁, người Hợp Phì 合肥, Lư Châu 廬州 (nay là thành phố Hợp Phì, tỉnh An Huy 安徽, Trung Quốc), đậu tiến sĩ xuất thân 進士出身năm 1027, đã từng giữ những chức vụ quan trọng như Giám sát ngự sử, Trực học sĩ Long Đồ các, phủ doãn Khai Phong, Khu mật phó sứ, trong dân gian và trong các vở kịch, tiểu thuyết thường được gọi một cách thân mật là Bao Công 包公, Bao Long Đồ 包龍圖, Hắc lão Bao,… Là một vị quan thanh liêm có tiếng, ông chấp pháp rất nghiêm, không bao giờ khiếp sợ quyền uy, vị nể tư tình. Là một người có học vị cao và sống ở một thời đại văn thơ nở rộ, chắc ông cũng sáng tác không ít song đáng tiếc là cho đến nay chỉ còn lại một bài ông làm lúc mới bước vào đường hoạn lộ là Thư Đoan Châu quận trai bích 書端州郡齋壁 (Đề lên tường thư trai ở quận Đoan Châu).

Đoan Châu nay thuộc thành phố Triệu Khánh, tỉnh Quảng Đông. Bài thơ có tính chất nghị luận này đã được Bao Chửng ghi lên tường lúc ông còn làm tri phủ Đoan Châu, chủ yếu là để tự răn mình.

Hai câu đề đề xuất chuẩn tắc xử thế: làm quan thì phải thanh liêm, làm người thì phải ngay thẳng. Hai cặp thực – luận, từ hai phía chính diện và phản diện, dùng tỉ dụ để biện giải: thực đề xuất yêu cầu đối với bản thân, luận phê phán bọn tham quan ô lại, đồng thời nêu bài học tự cảnh giới. Bao Chửng đã chỉ ra một cách chí lí, muốn diệt trừ bọn tham nhũng thì phải diệt tận gốc điều kiện tạo cho chúng hoạt động: những kho đụn béo bở, những đồng cỏ màu mỡ… kết rút ra bài học lịch sử và hàm ý gửi gắm lời nhắn nhủ tâm huyết tới mọi người.

Bao chửng nói vậy và đã làm vậy, không phải mãi sau này khi giữ chức phủ doãn Khai Phong mà ngay từ lúc làm bài thơ này. Đoan Châu là vùng đất có đặc sản nổi tiếng: Đoan nghiên – thứ nghiên mực làm bằng loại đá quý chỉ có ở địa phương này, là đồ dùng rất được vua quan đời Tống hâm mộ, là một “mặt hàng” đem lại lãi lớn. Các ông quan trước Bao Công thường cho khai thác nhiều gấp mấy chục lần định ngạch, số dư phần thì đem bán song phần chính dùng cống nạp, biếu xén bề trên để tạo điều kiện thăng quan tiến chức. Bao Công tuyệt không làm thế và khi rời Đoan Châu, ông không hề đem theo một chiếc Đoan nghiên nào…

Tác phẩm nghệ thuật quý ở chất lượng. Phim về Bao Công quả đã đem lại nhiều điều bổ ích và thú vị song đôi lúc xem quá nhiều, dồn dập, dường như có người đã cảm thấy loãng, trùng lặp. Thơ của chính Bao Công chỉ còn lại một bài, song vì thế nó lại càng quý và có ý nghĩa: Bài thơ như những lời thề sắt son, như những châm ngôn chắc nịch tạc sâu vào bia đá khiến cho tấm gương cuộc đời Bao Công, vốn đã sáng đẹp, lại càng thêm sức hấp dẫn, thuyết phục đối với hậu thế.


Nguyễn Khắc Phi

Nguồn: Nguyễn Khắc Phi, Thơ Văn cổ Trung Hoa - mảnh đất quen mà lạ, NXB Giáo dục, 1999
Ảnh đại diện

Xuân nhật tạp hứng (Lục Du): Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Đốt lửa đêm đêm hơ áo bông,
Cơm trưa một bát đáng muôn đồng.
Quan già trách nhiệm không còn nữa,
Thấy cảnh dân xiêu vẫn động lòng.


Nguồn: Thơ Lục Du, NXB Văn học, 1971
Ảnh đại diện

Ngẫu thành (Nguyễn Đề): Bản dịch của Lâm Giang

Tuổi ta vừa mới ngoại ba mươi,
Giập ngã trăm lần chẳng thốt lời.
“Lưỡi bút” dung thân nhờ mấy bận,
“Ruộng nghiên” sinh sống cậy bao đời.
Được thua trong mộng lòng bừng tỉnh,
Danh lợi trên đường tớ chịu thôi.
Đôi mắt ngạo đời con tạo phú,
Để khi trai giới giữa vòm trời.


Nguồn: Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Đề, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, NXB Khoa học Xã hội, 1995

Trang trong tổng số 14 trang (131 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] ... ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: