Trang trong tổng số 14 trang (131 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ kỳ 1 (Nguyễn Du): Bản dịch của Ngô Linh Ngọc

Nghìn thuở văn chương, nghìn thuở thầy,
Trọn đời khâm phục, dám đơn sai.
Bách tùng đất Lỗi giờ đâu nhỉ,
Rồng cá chiều thu nỗi nhớ đầy!
Chẳng sống chung thời, tuôn lệ nhớ,
Há nghèo đến thế bởi thơ hay?
Lắc đầu, chứng cũ khỏi chưa nhỉ?
Dưới đất đừng cho quỉ nó cười!


Nguồn: Mai Quốc Liên (chủ biên), Nguyễn Du toàn tập, Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Nhà xuất bản Văn học, 1996
Ảnh đại diện

Xương Môn tức sự (Trương Kế): Bản dịch của Cao Bá Vũ

Thuyền quân ních chặt dân cày,
Đồng hoang trải rộng xuân dài cỏ xanh.
Lặng nhìn thôn xóm vắng tanh,
Tìm hương khói mới thanh minh xứ nào?


Nguồn: Thơ Đường chuyển lục bát, NXB Văn học, 2002
Ảnh đại diện

Xương Môn tức sự (Trương Kế): Bản dịch của Lê Nguyễn Lưu

Thuyền lầu vét lính hết nông dân,
Đồng ruộng xanh um lớp cỏ xuân.
Lên thử Ngô Môn nhìn khắp chốn,
Thanh minh khói mới thấy thưa dần.


Nguồn: Đường thi tuyển dịch, NXB Thuận Hoá, 2007
Ảnh đại diện

Xương Môn tức sự (Trương Kế): Bản dịch của Nam Trân

Nhà nông bị bắt xuống thuyền binh,
Ruộng đất bao la cỏ mượt xanh.
Lên gác Ngô môn nhìn khắp quận,
Lơ thơ khói mới tiết thanh minh.


Nguồn: Thơ Đường hai tập, Nam Trân giới thiệu, NXB Văn hoá, 1962
Ảnh đại diện

Xương Môn tức sự (Trương Kế): Vài góp ý về bài thơ Xương Môn tức sự!

Mình rất đồng ý với bạn kimthoty! Tuy nhiên, có vài điểm cần bàn thêm như sau:

閶門即事
耕夫召募逐樓船,
春草青青萬頃田。
試上吳門窺郡郭,
清明幾處有新烟。

Xương môn tức sự

Canh phu triệu mộ trục lâu thuyền,
Xuân thảo thanh thanh vạn khoảnh điền.
Thí thướng ngô môn khuy quận quách,
Thanh minh kỷ xứ hữu tân yên?


Tên bài thơ: 閶門即事, phiên là “Xương môn tức sự”. Lê Nguyễn Lưu còn phiên là “Xướng môn tức sự” và chú rằng “cũng đọc Xương môn, tên một cửa của thành Tô Châu”.
Dựa vào sách của Nguyễn Danh Đạt, Tiêu Đồng Vĩnh Học xin làm rõ thêm như sau:
1. “Xương môn”: Một cửa thành ở Tô Châu.
2. “Lâu thuyền”: Là thuyền chở lính ngày xưa. “Trục lâu thuyền 逐樓船”: bắt đi lính. Bản chữ Hán của Thi Viện lại chép là “愛樓船, ái lâu thuyền”. Mình thấy cần xem lại chỗ này.
3. Khoảnh 頃, là 100 mẫu. Vậy “萬頃田 vạn khoảnh điền” dịch thành “Hàng vạn cánh đồng” hay “muôn thửa ruộng” là rất hợp lý. Trong khi đó bản chữ Hán của Thi Viện lại chép là “項, hạng”? Mặc dù “hạng” cũng có nghĩa là “to, lớn” nhưng trong các tài liệu của Trung Quốc đều viết là 萬頃田. Có chỗ chú giải là: 農民被召去當兵, 万頃農田旡人耕作 (Nông dân bị triệu khứ đương binh, vạn khoảnh nông điền vô nhân canh tác. Nghĩa là: Nông dân bị bắt làm lính, hàng vạn thửa ruộng không có người canh tác). Đây là lời tố cáo của tác giả bài thơ đối với giai cấp thống trị phong kiến.
4. “Ngô Môn”: chỉ Xương Môn.
5. Trong sách Thơ Đường hai tập chữ “yên” viết là 烟, một số tài liệu của Trung Quốc cũng dùng chữ này. Tất nhiên nó cũng dùng như chữ 煙.

Rất mong sự đóng góp của quý vị thức giả!


Tài liệu tham khảo:
1. Thơ Đường hai tập, Nam Trân giới thiệu, NXB Văn hoá, 1962.
2. Nguyễn Danh Đạt, Bình và chú giải 100 bài thơ Đường hay nhất, NXB Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 1999.
Ảnh đại diện

Tức sự kỳ 1 (Nguyễn Thượng Hiền): Bản dịch của Lê Thước

Hà Nội tro tàn khắp đó đây,
Ba triều cung quán rộn kèn Tây.
Gió thu một dải trời liền nước,
Ải tối ngàn trùng núi lẫn mây.
Nghe cuốc đầu cầu hay khí đổi,
Bắn hùm trong cỏ tiếc người tài.
Hồ Tây chẳng gợn hờn năm trước,
Lại trổ hoa sen rượu thắm mùi.

Ảnh đại diện

Thu dạ ký văn (Đoàn Huyên): Bản dịch của Mai Xuân Hải

Nhà thanh gặp buổi đêm thanh,
Biết bao tiếng động rõ rành bên tai.
Dế kêu rộn rã bụi ngoài,
Gọi bày tiếng nhạn bên trời ríu ran.
Thành sông chuông vẳng trăng tàn,
Tiếng chày lạnh buổi thu hàn biển khơi.
Xa quê ngàn dặm bên trời,
Vấn vương hồn mộng ngậm ngùi khôn khuây!

Ảnh đại diện

Thị đệ tử (Vạn Hạnh thiền sư): Bản dịch của Trần Quê Hương

Thân như ánh chớp hoàng hôn,
Ngàn cây xuân thắm, thu buồn mênh mông.
Dòng đời suy thịnh... có không,
Thịnh suy như giọt sương đông đầu cành.

Ảnh đại diện

Chinh phụ ngâm (Thái Thuận): Bản dịch của Bùi Văn Nguyên

Cỏ tốt đầy sân, liễu rủ mành,
Ngày về bao nả khách tòng chinh?
Rèm thưa lòng não, trăng tàn bóng,
Gối lạnh châu tràn quốc gọi canh.
Ải bắc mây tràn thương nhạn lẻ,
Giang nam xuân hết, lạt mày xanh.
Tương tư mấy độ đêm thường mộng,
Khốn nỗi lang quân có thấu tình?


Bùi Văn Nguyên (bút danh: Vân Trình, Hùng Nam Yến) dịch lại, dựa theo bản dịch trong sách Hoàng Việt thi văn tuyển của Nhóm Lê Quý Đôn.

Nguồn: Bùi Văn Nguyên (chủ biên), Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 5, NXB KHXH, 1995
Ảnh đại diện

Quá Linh Đinh dương (Văn Thiên Tường): Bản dịch của Nguyễn Tôn Nhan

Gian khổ lao đao suốt đời mình,
Can qua loạn lạc bốn mùa kinh.
Sơn hà tan nát bay theo gió,
Thân thể nổi chìm mưa cuốn nhanh.
Đầu thác kinh hoàng đâu kể xiết,
Giữa bờ biển rộng kiếp linh đinh.
Đời người xưa vốn ai không chết,
Một tấm lòng son để sử xanh.


Nguồn: Nguyễn Tôn Nhan, Tinh hoa gương sáng cổ nhân, NXB Văn học, 1998

Trang trong tổng số 14 trang (131 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ... ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: