Trang trong tổng số 73 trang (721 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Trung Tân ngụ hứng (Nguyễn Bỉnh Khiêm): Bản phiên âm

Ở trên chỉ là bản dịch thơ (của Ngô Lập Chi)
Dưới đây là bản phiên âm bài thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Trung Tân ngụ hứng

Nhân thôn quán tây nam,
Giang thuỷ quán tây bắc.
Trung hữu bán mẫu viên,
Viên tại Vân Am trắc.
Luân ưởng trần bất đáo,
Hoa trúc thủ tự thực.
Trượng lý tập hoa hương,
Trản giả xâm hoa sắc.
Điểu tị phanh trà yên,
Ngư thôn tẩy nghiễn mặc.
Khiển hứng nhậm thi cuồng,
Phù suy da hữu lực.
Nhân xảo, ngả giả chuyết,
Thuỳ tri chuyết giả đức,
Ngã chuyết, nhân giả xảo,
Thuỳ tri xảo giả tặc.
Kiền khôn tĩnh lý suy,
Cổ kim nhàn trung đắc.
Hiểm mạc hiểm thế đồ,
Bất tiển tiện kinh cúc.
Nguy mạc nguy nhân tâm,
Nhất phóng tiện quỷ quắc.
Quân tử cầu sở chỉ,
Chí thiện (1) tư vi cực.

(1) Chí thiện: Là tiêu chuẩn tuyệt đối về các sự lý ở đời.
Trong sách Đại học có câu: "Chỉ ư chí thiện" ý nói người học
vào bậc đại học phải đứng thật vững vào chỗ chí thiện.

Dịch nghĩa:

Thơ ngụ hứng ở quán Trung Tân (2)

Phía tây nam quán ấy có làng xóm,
Phía tây bắc quán ấy có sông ngòi.
Ở giữa có nửa mẫu vườn,
Vườn ở bên am Bạch Vân.
Bụi ngựa xe không bám vào được cái am ấy,
Hoa và trúc ở trong vườn chính tay tự trồng lấy.
Khi chống gậy, lê dép ra vườn chơi thì hương thơm của hoa bám vào gậy, dép
Khi nâng chén rượu để thưởng thức thì sắc hoa ánh vào chén rượu.
Khí đun nước để pha trà thì loài chim lánh khói,
Khi rửa nghiên mực, mực chảy xuống thì loài cá nuốt lấy.
Khi thích chí thì ngâm thơ tràn để tiêu khiển,
Lại nhờ có chén rượu nhắp cho hăng hái để đỡ sức già yếu.
Người ta khéo léo mà mình lại vụng về,
Biết đâu vụng về ấy lại là một đức tốt!
Ta khờ dại mà người thì xảo quyệt,
Biết đâu lòng xảo quyệt ấy lại là một cái hại lớn!
Khi tĩnh, suy lẽ tạo hoá,
Lúc nhàn, ngẫm việc xưa nay.
Không gì hiểm bằng đường đời,
Nếu không biết cắt bỏ đi thì toàn là chông gai cả.
Không gì nguy hiểm bằng lòng người,
Nếu không biết giữ gìn mà buông phóng ra thì hoá thành
quỷ quái cả.
Vì vậy, người quân tử phải tìm nơi đứng cho vững,
Lấy điều "chí thiện" làm tiêu chuẩn tuyệt đối.

(2) Quán Trung Tân: do Nguyễn Bỉnh Khiêm, khi về ở ẩn tại
quê nhà, đã cùng các vị bô lão dựng lên, vừa là nơi "thắng địa"
(vùng đất đẹp hơn cả), vừa là nơi nghỉ ngơi cho những người
qua đường. Quán Trung Tân đã trở thành đê tài quen thuộc
trong thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm.


Nguồn: Lý Tế Xuyên, Vũ Quỳnh, Kiều Phú, Lê Thánh Tông, Ngô Chi Lan,
Nguyễn Bỉnh Khiêm
, Nxb Văn Nghệ, TP HCM,1998
Ảnh đại diện

Đăng Phật Tích sơn (Phùng Khắc Khoan): Bản dịch của Tham Tuyền

Cất gót nghìn trùng tới,
Nơi đây đệ nhất tằng.
Ngoảnh đầu trông xuống thấp,
Ô! Vượt Vũ Môn chăng?
Bỗng đâu nảy hứng tới rừng thiền,
Nhẹ bước đường mây bước thản nhiên.
Chim dưới bóng thông chào đón khách,
Hoa trong hang núi lặng nhìn tiên.
Hái sao một với trời vin tới,
Gạt bụi ba nghìn cõi sấn lên.
Vách đá, phủi rêu đề cảnh đẹp,
Thơ thành, bút khuấy động sơn xuyên.


Nguồn: Bùi Duy Tân, Thơ văn Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007
Ảnh đại diện

Tặng Tam Tổ Vịnh (Vương Duy): Bản dịch của Đinh Vũ Ngọc

Nhện đu cửa sổ trống,
Dế ca trước thềm cao.
Năm hết gió mát thổi,
Anh bây giờ ra sao?
Quán không người bỏ vắng,
Đi nơi khác rồi ru?
Cửa đóng cài then khoá,
Nắng chiều chiếu cỏ thu.
Gần đây có tin tức,
Nhưng nghìn dặm sơn khê.
Lại làm khách Nhữ, Dĩnh,
Núi xưa năm ngoái về.
Hai mươi năm kết bạn,
Chưa một ngày vui chung.
Anh bệnh nghèo trầm trọng,
Tôi vất vả lao lung.
Tháng tám chưa về được,
Hẹn nhau buổi thu tàn.
Vài ngày vui gặp gỡ,
Rồi nhớ nhau miên man.


Nguồn: Đường thi cảm dịch, Đinh Vũ Ngọc, NXB Đà Nẵng, 2000
Ảnh đại diện

Hạnh viên (Đỗ Mục): Bản dịch của Phụng Hà

Đêm trước mưa phùn tẩy hoa rơi
Vương tôn, tuấn mã dạo bước đôi
Chớ lạ hạnh viên tiều tuỵ thế
Khắp thành lắm kẻ giắt hoa chơi.

Ảnh đại diện

Thu oán (La Nghiệp): Bản dịch của Phụng Hà

Song mai chim hót ngắt giấc nồng
Sân trước sương đêm đẫm ngô đồng
Chẳng hay ngoài cửa trăng tròn nọ
Có rọi biên thành đến sáng không?

Ảnh đại diện

Thu oán (La Nghiệp): Bản dịch của Nguyễn Minh

Tỉnh mộng nghe chim mai đua hót
Sương đêm qua rơi ướt ngô đồng
Chẳng hay trăng sáng ngoài song
Có còn chiếu sáng hay không biên thành ?

Ảnh đại diện

Phong Kiều dạ bạc (Trương Kế): Bản dịch của Phụng Hà

Nguyệt chìm, tiếng quạ, sương giăng
Lửa chài phong bến, sầu len giấc tàn
Mé Cô Tô, chùa Hàn San
Nửa đêm chuông điểm tìm thăm khách thuyền.

Ảnh đại diện

Ký Dương Châu Hàn Xước phán quan (Đỗ Mục): Bản dịch của Phụng Hà

Núi xanh mờ mịt, nước xa vời,
Cây cỏ Giang Nam thu úa sầu.
Hăm bốn cầu xưa còn nguyệt rạng,
Nay người dạy sáo biết nơi đâu?

Ảnh đại diện

Hoa Tử cương (Vương Duy): Bản dịch của Phụng Hà

Cánh chim bay chẳng ngưng
Núi liền màu thu nhuộm
Gò Hoa Tử chập chùng
Mông mênh lòng sầu muộn.

Ảnh đại diện

Hoài thượng ngư giả (Trịnh Cốc): Bản dịch của Phụng Hà

Sóng bạc đầu, đầu bạc ngư ông
Thuyền trôi theo gió khắp bến sông
Cá lư một thước vừa câu được
Cháu nhóm cạnh lau ngọn lửa hồng.

Trang trong tổng số 73 trang (721 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] ... ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: