Trang trong tổng số 6 trang (53 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Xuân vũ (Lý Thương Ẩn): Không rõ

Đọc "Thẩm Thăng Y hệ liệt" của Hoàng Ưng, không biết người dịch là ai nhưng thấy dịch bài Xuân vũ này hay mà sát ý, đưa lên để mọi người thưởng thức.

"Đưa mắt ngày xuân áo trắng dày,
Cửa nghèo rơi rụng ý khôn khuây.
Lầu hồng mưa cách nhìn sang lạnh,
Rèm thuý đèn côi lẻ bước về.
Lối thẳm đau xuân vườn đã xế,
Đêm tàn còn được mộng như ngây.
Trâm vòng thư tín làm sao gửi,
Muôn dặm trời mây một nhạn bay".

Ảnh đại diện

Khúc trì hà (Lư Chiếu Lân): Bản dịch của Vũ Xuân Thăng

Hương cồn lên quấn lấy bờ,
Dáng cong bờ cuộn lấy hồ hoa sen.
Sợ rằng thu sớm gió lên,
Phiêu linh tàn tạ đến bên hỡi người.

Ảnh đại diện

Cảm hoài [Thuật hoài] (Đặng Dung): Bản dịch của Trọng Vũ

Việc còn dằng dặc, sao đã già?
Gói tròn trời đất khúc say ca.
Gặp thời kẻ mọn thành công dễ,
Nuốt hận anh hùng chịu vận qua.
Với chúa những mong vần trái đất,
Sông trời không lối rửa quân ta!
Thù nước còn đây đầu đã bạc,
Dưới trăng mài kiếm khó lâu mà!

Ảnh đại diện

Ngụ đề (Đỗ Mục): Bản dịch của Vũ Xuân Thặng

Cầm rượu nên say ngay ngất ngư,
Trước hoa nở, rụng tiếc chi chừ!
Ví như cả quãng đời ta ấy,
Nửa buồn thương, một nửa tâm tư!

Ảnh đại diện

Ký Toàn Tiêu sơn trung đạo sĩ (Vi Ứng Vật): Bản dịch của Vũ Xuân Thặng

Người vắng, công đường lạnh sớm nay,
Giật mình nhớ bạn ở trong mây.
Vẫn đang bó củi khe sâu ấy,
Hay đốt lò đan luyện bấy nay?
Những muốn mang bầu sang với bạn,
Mưa chiều mau quá, gió cùng mây.
Lá bay đầy núi, lá vàng bay!
Bạn ở nơi nào để kiếm đây?

Ảnh đại diện

Đối tửu (Nguyễn Du): Bản dịch của trongvu

Khoanh gối song nhàn mắt rượu ngây,
Hoa rơi lớp lớp xuống rêu dày.
Sống không cạn rượu trong lòng chén,
Chết dưới mồ kia ai tưới đây!
Trời xuân chuyển sắc, chim rời tổ,
Năm tháng ngầm in, bạc tóc mây.
Đời người muốn được say tràn mãi,
Thế sự phù vân ai oán thay!


Câu đầu có bản chép "Phu toạ nhàn song tửu nhãn khai", tại hạ thấy chữ "tửu" dùng đắt hơn chữ "tuý", không nói say mà đã thấy say rồi. Xin dịch theo ý này.
Ảnh đại diện

Quan san nguyệt (Lý Bạch): Bản dịch của trongvu

Trăng sáng dần trên đầu núi,
Mênh mang mây nước, khoảng trời.
Gió mạnh vạn dặm xa tới,
Thổi Ngọc Môn quan suốt thôi.
Hán bày trận đường Bạch Đăng,
Hồ nhòm chiếm vùng Thanh Hải.
Từ xưa người chinh chiến mãi
Nào thấy ai về một vài.
Lính thú ngó vùng biên tái,
Nhớ nhà buồn bã khôn ngoai.
Lầu cao nơi quê xa ngái,
Đêm đêm nhó lính u hoài.

Ảnh đại diện

Há Chung Nam sơn, quá Hộc Tư sơn nhân túc, trí tửu (Lý Bạch): Về bản dịch của Hạt Cát.

Dịch thơ chữ Hán 5 chữ ra tiếng Việt cũng 5 chữ quả là khó. Bản dịch của Hạt Cát thật phóng khoáng, diễn tả đúng tâm trạng cởi mở của Lý Bạch.Tuy nhiên "tùng phong" là tên một khúc điệu, không nên dịch là gió thông.Câu : "Một miền xanh ngang vời" thật là Việt. "Lời vui mừng chỗ tốt" cũng rất hết ý. Thực là bài dịch hay.
Lý Bạch xuống núi Chung Nam ghé qua nhà ẩn sĩ họ Hộc Tư , ngủ lại, bày cuộc rượu;nên đề bài thơ dịch chưa chuẩn.

Ảnh đại diện

Xuân nhật tuý khởi ngôn chí (Lý Bạch): Bản dịch của trongvu

Đời như một giấc mộng dài
Việc gì cứ phải tháng ngày bôn ba?
Sao không say thật la đà,
Chán say ta ngủ trước nhà thảnh thơi.
Dậy thời đưa mắt ngắm chơi,
Con chim hót với hoa cười trước sân.
Bữa nay ngày mấy trong tuần?
Mà nghe oanh chuyện, gió xuân đưa về.
Cảnh xui lòng chợt não nề,
Rượu đây ta lại dốc vò mời ta.
Ca vang đợi ánh trăng ngà,
Ca xong phiền muộn đã là hư vô.

Ảnh đại diện

Hoàng Hạc lâu (Thôi Hiệu): Hoàng hạc lâu – Tuyệt tác thơ Đường phá cách

Bài thơ Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu trong kho tàng thơ Đường Trung quốc là một viên ngọc đẹp long lanh sáng rỡ mãi với thời gian. Ai đã từng yêu thích thơ Đường hẳn biết đến bài thơ Hoàng Hạc lâu của ông. (Thôi Hiệu 崔顥 (khoảng 704-754), người Biện Châu 汴州 (nay là tỉnh Hà Nam) đỗ tiến sĩ năm Khai Nguyên thứ 11 (723) làm quan đến chức Tư Huân viên ngoại lang.)

黃鶴樓
Hoàng Hạc lâu
Lầu Hoàng Hạc (Dịch thơ: Tản Đà)

昔人已乘黃鶴去,
此地空餘黃鶴樓。
黃鶴一去不復返,
白雲千載空悠悠。
晴川歷歷漢陽樹,
芳草萋萋鸚鵡洲。
日暮鄉關何處是,
煙波江上使人愁。

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xưa Anh Vũ xanh dày cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn.
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.
Người xưa cưỡi hạc vàng bay đi rồi, để lại giữa đất trời lẻ loi một lầu Hoàng Hạc. Hai câu đầu tác giả đưa người ta đến với truyền thuyết người tiên cưỡi hạc lên trời đẹp như mơ về một miền cổ tích. Đã thấy ngổn ngang tiếc nuối một cánh hạc mơ hồ giữa thực tại trống vắng. Lầu Hoàng Hạc chỉ là cái cớ để kéo thi nhân rời xa nỗi cô đơn giữa đời thường.

Hai câu tiếp theo: Hạc vàng một đi không trở lại, ngàn năm mây trắng vẫn dằng dặc bay đi mải miết vô tình. Chỉ với bốn câu thơ, thi nhân đưa ta lạc vào không gian ba chiều bao la của đất trời sang không gian một chiều của thời gian đầy khắc nghiệt bằng hình ảnh mây trắng bay dằng dặc ngàn năm về một miền miên viễn; đưa ta từ nỗi buồn hoài niệm cánh hạc cổ tích sang nỗi buồn bất lực với thời gian. Thế thôi mà nỗi buồn nhân đôi, trống vắng dâng đầy. Có ai làm được như Thôi Hiệu không? Không có ai!

Hai câu 5,6 tác giả lôi tuột ta về thực tại: Dòng sông mưa vừa tạnh, hàng cây Hán Dương tươi mới sau mưa hiện ra rờ rỡ trong nắng chiều. Bãi Anh Vũ cỏ non xanh mướt mát. Không gian tả thực trong trẻo tĩnh lặng trong ráng chiều thấp thoáng một nỗi niềm. Mà quả thế thật, hai câu cuối: Quê hương nằm ở phía nào đây dưới ánh hoàng hôn? Khói sóng trên sông cuộn dâng khiến người ta thêm sầu thảm. Đến đây thì ta đã hiểu mạch tình cảm trong thơ của thi nhân: nỗi buồn của người xa xứ, nuối tiếc ngày xưa đẹp như mơ, bất lực với thời gian và tuổi tác, bơ vơ đến mất cả phương hướng. Hoàng hôn của đất trời hay hoàng hôn của đời người đây? Quê hương mà vắng xa như truyền thuyết, một đi không mong ngày gặp lại; còn có buồn nào hơn nữa!

Đọc và cảm nhận Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu ta mới thấy bài thơ tại sao được nhiều người yêu thích, được người đời xem là tuyệt tác, sống mãi với thời gian. Lầu Hoàng Hạc là cái cớ để người thơ diễn tả cảm xúc. Nhờ Hoàng Hạc lâu mà lầu Hoàng Hạc càng thêm nổi tiếng. Càng tâm đắc thêm câu nói của học giả Trần Trọng San: “Tôi lạc vào thế giới của Đường thi từ lầu Hoàng Hạc (Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu) cho tới bến Phong Kiều (Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế).”

Chỉ thế thôi, đã thấy Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu hay lắm rồi. Nhưng như thế vẫn là chưa đủ với bài thơ hay và lạ đến độ “độc nhất vô nhị” này. Với những người yêu thơ Đường, chúng ta hãy cùng cảm nhận bài thơ dưới một góc độ khác: góc độ Đường luật. Luật thơ Đường rất nghiêm nhặt, tạo cho bài thơ Đường giai điệu uyển chuyển riêng, dễ lọt tai không thể lẫn với bất cứ thể thơ nào khác. Lạ lùng thay, Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu lại không như thế! Bài thơ Đường 8 câu 7 chữ Hoàng Hạc lâu là bài thơ vần bằng, có vận là “âu”. Do đó theo luật thơ, các chữ 2,4,6,7 trong câu thứ nhất phải có thanh bằng (B), trắc (T) như sau: BTBB. Ở đây các chữ thừa, hạc, khứ phạm vào luật bằng trắc; đọc lên ta thấy một cảm giác ngắc ngứ, giăng mắc không xuôi. Câu thứ 2 thì đúng theo luật: TBTB. Đỉnh điểm là câu thứ 3: theo luật thì phải là: TBTT thì chữ: khứ lại phạm luật, và lạ lùng hơn câu này có tới 6 thanh trắc. Các câu sau thì đều đúng luật bằng trắc. Bây giờ nói tới vần. Chữ khứ cuối câu thứ nhất lại không hợp với vần “âu”. Còn các câu sau thì vần này được bảo đảm đúng cách. (Lưu ý các bạn câu thứ 4: Bạch vân thiên tải không du du thì du du là âm Hán - Việt còn đọc theo âm Bắc kinh thì gần giống với dâu dâu của tiếng Việt ta cho nên không phạm luật.) Có lẽ nào thi nhân lại không nắm chắc luật thơ? Xin thưa: không phải đâu.

Thi trung hữu hoạ, thi trung hữu nhạc. Hoạ thì thi nhân đã vẽ rồi: bằng mây trắng trời xanh, bằng hàng cây rờ rỡ, bằng cỏ non lớp lớp, bằng bảng lảng khói sóng hoàng hôn trong tranh thuỷ mặc. Nhạc thì bằng những điệp ngữ: du du, lịch lịch, thê thê và tuyệt vời hơn nữa là bằng sự phá cách của nhà thơ: nhạc điệu diễn tả cái giăng mắc không xuôi,ngắc ngứ không ra lời của tình cảm. Câu thứ 3 với 6 thanh trắc liền nhau cảm giác ấy được đẩy lên mức cao hơn: đó là dồn nén, xếp lớp, chất chứa. Ở đây ta lại thấy được bút pháp tài hoa của thi nhân trong sự phá cách độc đáo này: lời và nhạc quyện vào nhau trong việc diễn tả ý tình. Thi hào Lý Bạch (701-762), người sống cùng thời với Thôi Hiệu khi đến lầu Hoàng hạc, đọc lại bài thơ ấy đã cảm thán:
Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu.
(Trước mắt có cảnh đẹp mà không thể làm thơ được,
Bởi vì Thôi Hiệu đã làm thơ đề ở trên đầu.)
Để ý ta thấy lại là 2 câu phá cách. Còn câu thứ 3 với 6 thanh trắc liên tiếp thì quá khó nên chăng Lý Bạch quăng bút không làm nữa mà bái phục Thôi Hiệu? Hoạ thơ, hoạ ý, hoạ vần nhưng hoạ lại sự phá cách như thế này, người yêu thơ đã thấy ở đâu chưa?

Lại nói thêm về bố cục thơ Đường chuẩn luật: Hai câu đầu là 2 câu đề (đặt vấn đề mà bài thơ nói tới). Hai câu tiếp theo là hai câu thực (tả hoặc nói thực về vấn đề đó). Hai câu sau đó là 2 câu luận (bàn luận về vấn đề đó). Cuối cùng là 2 câu kết (kết luận vấn đề). Với Hoàng Hạc lâu 6 câu đầu đều là câu thực (tả thực, kể thực). Chỉ có câu thực thứ 4: Bạch vân thiên tải không du du thấp thoáng bóng dáng của câu luận: thời gian có quy luật riêng của nó, cứ trôi một chiều vô tình không chờ ai, vì ai, đợi ai! Câu thứ 7 là câu hỏi. Tự hỏi mà không ai trả lời thay được. Thế thì luận ở đâu và kết ở đâu? Rõ ràng Hoàng Hạc lâu là bài thơ không theo bố cục thông thường. Gấp trang thơ lại, ta vẫn còn day dứt. Thôi Hiệu để cho ta tự luận rồi tự kết mà đồng cảm với ông. Phải chăng vì thế mà bài thơ sống mãi trong lòng người đọc.

Theo học giả Trần Trọng San, trong số những câu đối đề lầu Hoàng Hạc, câu sau nầy được coi là hay nhất, vì có tình thú đậm đà, dùng được nhiều chữ trong thơ xưa liên hệ với lầu nầy, miền nầy:
Hà thời hoàng hạc trùng lai, thả cộng đảo kim tôn, kiêu châu chử thiên niên mậu thảo;
Đãn kiến bạch vân phi khứ, dữ thuỳ xuy ngọc địch, lạc giang thành ngũ nguyệt mai hoa.
(Bao giờ hạc vàng trở lại, hãy cùng dốc chén vàng, tưới cỏ tươi ngàn năm trên bãi;
Chỉ thấy mây trắng bay đi, với ai thổi sáo ngọc, mai tháng năm rụng xuống thành sông.)
Thế mới biết sức sống của bài thơ ảnh hưởng đến cả một nền văn hoá lớn biết nhường nào.

Trang trong tổng số 6 trang (53 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: