Trang trong tổng số 380 trang (3795 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Độc Nguyễn Đình Chiểu nghĩa dân tử trận quốc ngữ văn (Tùng Thiện Vương): Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Đọc bài văn điếu nghĩa binh,
Đưa tin biên giới bỏ mình bao than.
Lời Manh Tả nào kém văn,
Điệu Khuất Bình sánh khúc càng bi ai.
Tầm vông áo vải lưu hoài,
Vượn than hạc oán trải qua bao đời.
Ngòi bút nhà nho giúp thôi,
Ân vua báo đáp đây lời thiết thân.

Ảnh đại diện

Quan bắc (Phạm Sư Mạnh): Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Chẳng dám dừng quân vâng chiếu chỉ,
Lọng xanh nắm vững kiếm Ngô Câu.
Ải quan Lão Thử hang Lâu Lại,
Mưa tuyết Thượng Ngao chướng Lộc Châu.
Ngựa sắt đông tây kèn giục giã,
Hàng cờ tả hữu gấu hùm đầu.
Hai mươi sách lược yên biên giới,
Một tấc lòng trung bạc mái đầu.

Ảnh đại diện

Chí Hà Nội trực lôi vũ kế tác đồ gian hỉ thành (Nguyễn Văn Siêu): Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Đầu sông Thanh Quyết đêm rời thuyền,
Mây núi Lị Nhân vần khắp miền
Than mãi người dân xuân nóng hạn,
Khách về mưa ngập đường đừng phiền.
Thâm điền vạn khoảnh đất phương thảo,
Thuỷ trúc nghìn thôn bức Võng Xuyên.
Nhìn lại mười năm tóc bạc trắng,
Thẹn trông bô lão đứng nhường phiên.

Ảnh đại diện

Vịnh thuỷ tiên hoa (Nguyễn Văn Siêu): Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Chất trắng trong thần giữa ngậm vàng,
Một mình lấy nước đứng làm làng.
Nhà vàng đời thường khen tặng đẹp,
Điện ngọc người tiên hiệu rõ ràng.
Đêm lạnh đuốc soi còn thấy bóng.
Rạng xuân hương thoảng tới đàn lan.
Trong rừng sâu vạn hồng nghìn tía,
Cùng chúa xuân “vốn thơm” trót mang.

Ảnh đại diện

Nhị hà kỳ 1 (Nguyễn Văn Siêu): Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Ngàn xưa có nước chảy xuôi dòng,
Ổn định suối muôn nghìn phía đông.
Thành luỹ lâu đài cũ giữ mới,
Mây bay tây lĩnh vạn non sông.
Việc qua sầu tới chim cảm xúc,
Xuân muộn hoa bay suối cảm thông.
Tự đứng tự đi nơi khói sóng,
Ai tìm ngư lão một mình không?

Ảnh đại diện

Thủ 08 (Lê Hữu Trác): Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Phiêu bạt giang hồ ba chục niên,
Chiếu mời một sớm đến Trường Yên.
Y quan văn vật nơi trung thổ,
Đình quán lâu đài trời tiếp biên.
Hoang dã xuất thân còn tính tục,
Ngọc đường lui tới thẹn nhà tiên,
Đất này thuở nhỏ từng lui tới,
Trở lại ngày nay khác hiển nhiên!

Ảnh đại diện

Miết trì (Chu Văn An): Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Trăng nước bên cầu giỡn bóng tà,
Lặng yên sen lá mọc chen hoa.
Cá bơi ao cổ rồng đâu chốn,
Mây phủ núi không hạc vắng xa.
Mùi quế già bay làm thơm ngát,
Rêu non đẫm nước lấp đường thông.
Tấc lòng này vẫn chưa nguôi lạnh,
Nghe nói Tiên hoàng gạt lệ trông.

Ảnh đại diện

Xuân nhật kỳ 3 (Nguyễn Khuyến): Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Mong xuân không biết xuân về rồi,
Mây lạnh mịt mờ mưa mãi thôi.
Chồi biếc bên thềm đâm lộc mới,
Nước trời chim cá tự bay bơi.
Trần gian hạc vàng đôi khi lánh,
Biển thẳm nơi đâu cò trắng bay.
Song bắc một mình say tuý luý,
Lên non xỏ dép đặng trèo chơi.

Ảnh đại diện

Điệu nội (Nguyễn Khuyến): Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Năm mươi năm sống với nhau qua,
Ngủ thiếp tựa hoè giấc mộng dài.
Qua cửa bóng câu nhanh chớp giật!
Ngổn ngang mồ mả trải tròn vai.
Biết đâu tịnh độ nơi vui thú,
Thương mến đường trần khó ngóng ai.
Nếu được sống lâu Bành Tổ ấy,
Tám trăm năm khóc vợ bao lần.

Ảnh đại diện

Canh Dần thanh minh (Nguyễn Khuyến): Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Mưa mãi mấy hôm nay tạnh trời,
Nào hay đã ngày thanh minh rồi.
Mây đen vơ vẩn chưa tan hết,
Cây cối tươi xanh lại sinh sôi.
Qua đất Y Xuyên đồng đứng tế,
Khách miền Đông Lạc giục chuông hồi.
Bấy lâu cửa bắc ta buồn quá,
Nhấp chén đề thơ dạ chẳng nguôi.

Trang trong tổng số 380 trang (3795 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: