Trang trong tổng số 771 trang (7708 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Tự điếu (Lương Ngọc Quyến): Bản dịch của Đào Trinh Nhất

Bể học vượt đầu tiên, hơn mười năm chí lớn không sờn, muốn đúc Trãi, Trường phù nước tổ;

Trời xanh xui mệnh vắn, dưới chín suối thiêng còn đó, lại làm Bí, Lợi cứu non sông.

Ảnh đại diện

Điếu Tăng Bạt Hổ (Phan Chu Trinh): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Ba mươi năm lẻ, núi biển trải nhọc nhằn, ai cũng thương cho cảnh ngộ, trời hẳn thấy nhiệt thành, quất ngựa thẳng non thần, tráng chí mới thông miền thượng quốc;

Hai chục kỷ đời, gió mây chiều biến đổi, người đều đua lấy trí, người muốn đấu bằng sức, quay gươm về nước cũ, hồn thiêng còn mến đất thần kinh.

Ảnh đại diện

Đề toạ thượng bích (Đặng Thái Thân): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Ba mươi hai tuổi lẻ, vẫn chưa nên người, thở vắn than dài, bầu tâm huyết thiêu cơm trời đất;

Trăm thiên sách đọc thừa, còn chưa biết chữ, riêng ngồi lặng ngắm, lửa nhiệt thành rọi đuốc thánh hiền.

Ảnh đại diện

Điếu Phan Đình Phùng (Khuyết danh Việt Nam): Bản dịch của Đào Trinh Nhất

Anh hùng thành bại kể chi, dạ sắt son, lòng vàng đá, thề cùng các bạn giữ trước sau. Mặc châu đúc khí tinh anh, trung hiếu hẹn hò cùng sử sách. Ngao ngán lẽ lầu cao sắp đổ, một cột khó nâng, phòng vắng khói tan, liếc mắt non xanh thêm tức tối. Và bây giờ rồng bay mây ám, xót xa việc thế khôn lường, những thương La Việt giang sơn, văn hiến trăm năm thành trận mạc.

Trời đất xưa nay thế mãi, đá dựng ngược, nước chảy xuôi, đó vẫn non sông phường tuấn kiệt. Lam Hồng nổi cơn bão tuyết, bách tùng uá rụng luống xông pha. Đau đớn thay đê vỡ sóng vồ, giữa dòng trụ đứng, sao dời vật đổi, ngảnh đầu người cũ phải bôn chôn. Đương lúc này gió thổi nhạn lìa, căm giận lòng trời cay nghiệt, riêng cảm tùng mai khí tiết, tinh thần một thác rạng trăng sao.

Ảnh đại diện

Phan công Đình Phùng vãn từ (Nguyễn Thượng Hiền): Bản dịch của Cử Tạ

Tiếng kèn ai oán vẳng ngàn xa,
Mờ mịt trời mây dặm hải hà.
Gươm giáo tô màu cờ biển cũ;
Cân đại nặng gánh nước non nhà.
Vang danh Ngự sử nơi triều trước;
Xót cảnh tướng quân giọt lệ nhoà.
Ngày khác trung nguyên về một mối;
Công đầu giết giặc chẳng ai qua.


Nguồn: Thái Bạch, Thi văn quốc cấm thời thuộc Pháp, NXB Khai Trí, 1968
Ảnh đại diện

Sơn trung quả phụ (Đỗ Tuân Hạc): Bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ

Đưa chồng chạy loạn giữ buồng tiêu,
Tóc cháy quần gai hết mĩ miều;
Dâu bỏ còn thu tiền thuế thổ,
Ruộng hoang vẫn giữ ngạch chinh miêu;
Hái rau cả gốc đem về nấu,
Chém củi đun cơm lẫn lá vào.
Ẩn đến hang sâu là chỗ kín,
Khôn tìm một chước khỏi chinh dao.


Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 149, tháng 4-1930
Ảnh đại diện

Can qua (Vương Trung): Bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ

Âm ầm binh hoả biết đi đâu,
Công việc chưa xong đã bạc đầu;
Chén rượu bi thu Vương Xán trước,
Câu thơ ái quốc Đỗ Lăng sau;
Quê nhà khuất núi linh xa tiếng,
Đêm nguyệt nằm sương thước chịu rầu;
Ước được rượu tiên trăm chén nhắp,
La đà chờ đến buổi Thương Châu.


Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 149, tháng 4-1930
Ảnh đại diện

Tả thiên chí Lam Quan thị điệt tôn Tương (Hàn Dũ): Bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ

Chầu sớm dâng thư dưới khuyết đường,
Chiều hôm giấy bãi đến Triều Dương;
Muốn trừ việc cũ đường tơ rối,
Dám tiếc thân này mái tóc sương;
Mây lấp núi Tần nhà khuất nẻo,
Tuyết đông cửa ải ngựa cùng đường,
Dặm xa lận đận ơn lòng cháu,
Có ý vì ta giữ đống xương.


Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 149, tháng 4-1930
Ảnh đại diện

Sơn viên tiểu mai (Lâm Bô): Bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ

Trăm hoa vàng rụng một mình tươi,
Chiếm hết vườn xuân cả mọi mùi;
Cành rủ nước trong thưa thướt bóng,
Hương đưa chiều tối nhẹ nhàng hơi;
Chim toan liệng xuống còn trông trộm,
Bướm mới nghe tin đã rụng rời;
Tức cảnh một bài vui với cảnh,
Chẳng cần nhắp rượu vẽ tranh mai.


Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 149, tháng 4-1930
Ảnh đại diện

Tiểu chí (Đỗ Phủ): Bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ

Tiết trời như giục việc người ta,
Khí ấm dần sinh khí lạnh qua;
Người cải vóc hoa thêm sợi né,
Dương về trong ống thúc tro ra;
Sương gieo ngạn liễu gần buông lá,
Tuyết giục non mai sắp nở hoa;
Phong cảnh nước người như nước cũ,
Dạy con chuốc rượu thói quê nhà.


Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 149, tháng 4-1930

Trang trong tổng số 771 trang (7708 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: