08/12/2021 06:44Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Bát ai thi kỳ 4 - Thái sư Nhữ Dương quận vương Tiến
八哀詩其四-贈左僕射鄭國公嚴公武

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 27/02/2015 13:13

 

Nguyên tác

汝陽讓帝子,
眉宇真天人。
虯髯似太宗,
色映寒夜春。
往者開元中,
主恩視遇頻。
出入獨非時,
禮異見群臣。
愛其謹潔極,
倍此骨肉親。
從容聽朝後,
或在風雪晨。
忽思格猛獸,
苑囿騰清塵。
羽旗動若一,
萬馬肅駪駪。
詔王來射雁,
拜命已挺身。
箭出飛鞚內,
上入回翠麟。
翻然紫塞翮,
下拂明月輪。
胡人雖獲多,
天笑不為新。
王每中一物,
手自與金銀。
袖中諫獵書,
扣馬久上陳。
竟無銜橛虞,
聖慈矧多仁。
官免供給費,
水有在藻鱗。
匪唯帝老大,
皆是王忠勤。
晚年務置醴,
門引申白賓。
道大容無能,
永懷侍芳茵。
好學尚正烈,
義形必沾巾。
揮翰綺繡揚,
篇什若有神。
川廣不可溯,
墓久狐兔鄰。
宛彼漢中郡,
文雅見天倫。
何以慰我悲,
泛舟俱遠津。
溫溫昔風味,
少壯已書紳。
舊游易磨滅,
衰謝增酸辛。

Phiên âm

Nhữ Dương Nhượng Đế[1] tử,
Mi vũ chân thiên nhân.
Cầu nhiêm tự Thái Tông,
Sắc ánh hàn dạ xuân.
Vãng giả Khai Nguyên trung,
Chủ ân thị ngộ tần.
Xuất nhập độc phi thì,
Lễ dị kiến quần thần.
Ái kỳ cần khiết cực,
Bồi thử cốt nhục thân.
Tòng dung thính triều hậu,
Hoặc tại phong tuyết thần.
Hốt tư cách mãnh thú,
Uyển hựu đằng thanh trần.
Vũ kỳ động nhược nhất,
Vạn mã túc tân tân.
Chiếu vương lai xạ nhạn,
Bái mệnh dĩ đĩnh thân.
Tiễn xuất phi khống nội,
Thượng nhập hồi thuý lân.
Phiên nhiên tử tái[2] phiến,
Hạ phất minh nguyệt luân.
Hồ nhân tuy hộ đa,
Thiên tiếu bất vi tân.
Vương mỗi trúng nhất vật,
Thủ tự dữ kim ngân.
Tụ trung gián liệp thư,
Khấu mã cửu thượng trần.
Cánh vô hàm quyết ngu,
Thánh từ thẩn đa nhân.
Quan miễn cung cấp phí,
Thuỷ hữu tự tảo lân[3].
Phỉ duy đế lão đại,
Giai thị vương trung cần.
Vãn niên vụ trí lễ,
Môn dẫn Thân, Bạch[4] tân.
Đại đạo dung vô năng,
Vĩnh hoài thị phương nhân.
Hiếu học thượng chính liệt,
Nghĩa hình[5] tất triêm cân.
Huy hàn ỷ tú dương,
Thiên thập nhược hữu thần.
Xuyên quảng bất khả sóc,
Mộ cửu hồ thố lân.
Uyển bỉ Hán Trung[6] quận,
Văn nhã kiến thiên luân.
Hà dĩ uỷ ngã bi,
Phiếm chu câu viễn tân.
Ôn ôn tích phong vị,
Thiếu tráng dĩ thư thân[7].
Cựu du dị ma diệt,
Suy tạ tăng toan tân.

Dịch nghĩa

Nhữ Dương là con của Nhượng Đế,
Khuôn mặt đúng là dòng vua.
Râu ria hệt như vua Thái Tông,
Sắc rạng rỡ như đêm xuân lạnh.
Trước kia vào thời Khai Nguyên,
Được vua ban ân huệ luôn.
Một mình ra vào cung cấm bất kể lúc nào,
Đã miễn lễ cho kẻ bề tôi này.
Vua mến vì tính rất trong sạch và cẩn thận của ông,
Thêm vào đó lại có tình máu mủ nữa.
Thảnh thơi sau khi dự chầu về,
Hoặc là gặp buổi gió tuyết.
Bỗng nghĩ đến việc giết thú dữ,
Trong vườn bụi mù tung.
Cờ xí tung đồng loạt,
Ngàn ngựa đứng nghiêm trang.
Sai ông tới bắn nhạn,
Theo lệnh liền nghiêng mình.
Tên bay khỏi ràm ngựa,
Bay nhập trên không, lại quay về tới lân biếc.
Vun vút cánh tên nơi biên giới đất đỏ,
Rồi hạ xuống dưới quét vành trăng sáng.
Người Hồ tuy săn bắn nhiều,
Nhưng vua cười không có vẻ sảng khoái lắm.
Mỗi khi vương trúng được một vật,
Tự tay vua ban cho bạc vàng.
Trong tay áo có tờ sớ can ngăn việc săn bắn,
Đã từ lâu níu ngựa mà dâng lên.
Vốn chẳng có ham thích gì với ngựa xe,
Mà vua cũng sẵn giầu lòng nhân.
Làm quan mà không nhận tiền cung cấp,
Dưới nước có cá núp trong rong.
Chẳng phải vì vua là đấng cao nhất,
Mà điều đúng là vua muốn khuyến khích lòng trung thành.
Vào cuối đời, ông ưa đãi rượu,
Có Thân công và Bạch sinh là tân khách trong nhà.
Đạo lớn không có sức để mà chứa,
Nhớ mãi khi chờ đợi cụm cỏ thơm.
Lòng ham học hãy còn rờ rỡ,
Hình ảnh nghiêm trang làm rơi nước mắt.
Vung bút toả ra bao cái đẹp,
Bài văn như có thần.
Sông rộng không thể ngược dòng,
Mộ lâu đời cáo thỏ ẩn náu.
Gần cạnh kia có quận Hán Trung,
Văn chương cũng được trời phú.
Lấy gì để an uỷ nỗi đau thương của tôi đây,
Đành dong thuyền nơi bến xa.
Đầm ấm là phong vị thuở trước,
Từ lúc nhỏ cho tới lớn đã ghi vào đai áo.
Những người quen cũ dễ bị rơi rụng,
Yếu mòn thêm lắm nỗi đau xót.

Bản dịch của Phạm Doanh

Nhữ Dương chính là con Nhượng Đế,
Mặt mày thật đúng vẻ thần thông.
Râu ria giống hệt Thái Tông,
Tựa đêm xuân lạnh ánh lồng tươi lên.
Ở vào đời Khai Nguyên trước đấy,
Ơn vua ban được thấy nhiều lần.
Ra vào thông báo chẳng cần,
Chầu vua khác hẳn các quan trong triều.
Gìn giữ, tuy được yêu rất mực,
Lại còn thêm cốt nhục tình thân.
Khỏi buổi chầu, lòng an nhàn,
Hay vào buổi sáng gió làn tuyết bay.
Bỗng nghĩ chuyện săn bày thú dữ,
Trong vườn vua lả tà bụi trong.
Cờ mao bay thẳng một hàng,
Vạn ngựa cất vó nghiêm trang bước dài.
Vời ông tới trổ tài bắn nhạn,
Tuân lệnh vua, ông ưỡn thân mình.
Từ đầu ngựa, tên bay nhanh,
Từng không vun vút, lân xanh lại về.
Biên giới đỏ, như cờ phất phới,
Vầng trăng trong quét dưới nhẹ sao.
Tuy người Hồ, hạ biết bao,
Mà vua chiếu lệ chẳng hào hứng chi.
Con mồi, ông mỗi khi bắn trúng,
Tự tay vua ban tặng bạc vàng.
Thư can săn, vẫn sẵn sàng,
Ghì ngựa lâu để mà dâng lên người.
Ngựa xe đã không vui ham lắm,
Vua đã hiền lại sẵn lòng nhân.
Làm việc chẳng nhận lương quan,
Dưới nước cá sẵn rong ăn đủ mà.
Chẳng phải vì vua già lẩm cẩm,
Đều do ông một tấm lòng trung.
Về già đặt rượu vui chung,
Loại khách Thân, Bạch vẫn thường tới lui.
Đạo lớn chẳng có thời rộng lượng,
Mong nhớ hoài cứ hướng cỏ tươi.
Gương chăm học còn sáng ngời,
Vẻ mặt nghĩa khí khiến người lệ rơi.
Sáng tác ý bày phơi rực rỡ,
Bản văn như thần ở bên trong.
Sông rộng thật khó ngược dòng,
Mồ xưa, cáo thỏ ở trong lâu rồi.
Quận Hán trung gần nơi kia đó,
Vẻ hào hoa hiện rõ tính trời.
Lấy gì xoa dịu hồn tôi,
Tại nơi bến vắng, cứ xuôi con thuyền.
Phong vị cũ êm đềm còn đó,
Từ thiếu niên ghi nhớ vào lòng.
Bạn cũ dễ bị tiêu vong,
Chua cay, đau khổ tăng cùng già nua.
(Năm 766)

Lời tự: “Thương thì loạn tặc vị tức. Hứng khởi Vương công, Lý công. Thán cựu hoài hiền, Chung ư Trương tướng quốc, Bát công tiền hậu tồn một, toại bất thuyên thứ yên.” 傷時盜賊未息。興起王公、李公。歎舊懷賢。終於張相國。八公前後存歿。遂不詮次焉。 (Gặp lúc gian nan, loạn lạc chưa dứt. Hứng lên bắt đầu với ông Vương Tư Lễ, Lý Công Bật. Than cái xưa, nhớ người hiền, cuối cùng là quan tướng quốc họ Trương Cửu Linh. Tám ông trước sau kẻ còn người mất, đều không theo thứ tự vậy.

[1] Nhượng hoàng đế Hiến, tên là Thành Khí, tên thuỵ là Nhượng. Mới đầu được lập làm thái tử, sau vì Đường Minh Hoàng có công diệt được họ Vi (thái hậu), nên được nhường ngôi kế vị này.
[2] Khi nhà Tần khởi đầu xây Trường Thành nơi vùng đất có màu đỏ, nên gọi Trường Thành là biên giới đỏ.
[3] Chỉ chung các loại cá. Ngư tảo là tên bài thơ thuộc phần Tiểu nhã trong Kinh thi. Bài có ba chương, chương đầu khởi đầu bằng hai câu: “Ngư tại tại tảo, Hữu phần kỳ thủ” 魚在在藻,有頒其首. Ý thơ mô tả vua vui phần vua, bề tôi có cái vui của bề tôi.
[4] Theo Hán thư, Thân công và Bạch sinh đều học làm thơ với Phù Khâu Bá. Chữ dùng để chỉ bậc hiền tài.
[5] Do chữ “nghĩa hình ư sắc” 義形於色, lòng trang nghiêm hiện rõ nơi vẻ mặt.
[6] Em của vương là Hán Trung vương Lý Vũ.
[7] Chữ từ Luận ngữ, thiên Vệ Linh Công 衛靈公: “Tử Trương thư chư thân” 子張書諸紳, ghi nhớ nằm lòng.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Bát ai thi kỳ 4 - Thái sư Nhữ Dương quận vương Tiến