05/03/2021 01:34Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Thướng Vi tả tướng nhị thập vận
上韋左相二十韻

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 15/03/2015 17:38

 

Nguyên tác

鳳歷軒轅紀,
龍飛四十春。
八荒開壽域,
一氣轉洪鈞。
霖雨思賢佐,
丹青憶老臣。
應圖求駿馬,
驚代得麒麟。
沙汰江河濁,
調和鼎鼐新。
韋賢初相漢,
范叔已歸秦。
盛業今如此,
傳經固絕倫。
豫樟深出地,
滄海闊無津。
北斗司喉舌,
東方領搢紳。
持衡留藻鑒,
聽履上星辰。
獨步才超古,
餘波德照鄰。
聰明過管輅,
尺牘倒陳遵。
豈是池中物,
由來席上珍。
廟堂知至理,
風俗盡還淳。
才傑俱登用,
愚蒙但隱淪。
長卿多病久,
子夏索居頻。
回首驅流俗,
生涯似眾人。
巫咸不可問,
鄒魯莫容身。
感激時將晚,
蒼茫興有神。
為公歌此曲,
涕淚在衣巾。

Phiên âm

Phụng lịch Hiên Viên[1] kỷ[2],
Long phi tứ thập xuân.
Bát hoang khai thọ vực,
Nhất khí chuyển hồng quân[3].
Lâm vũ[4] tư hiền tá,
Đan thanh[5] ức lão thần[6].
Ưng đồ cầu tuấn mã,
Kinh đại đắc kỳ lân[7].
Sa thải giang hà trọc,
Điều hoà đỉnh nãi tân.
Vi Hiền[8] sơ tướng Hán,
Phạm Thúc[9] dĩ quy Tần.
Thịnh nghiệp kim như thử,
Truyền kinh cố tuyệt luân.
Dự chương thâm xuất địa,
Thương hải khoát vô tân.
Bắc Đẩu[10] ti hầu thiệt,
Đông phương[11] lãnh tấn thân[12].
Trì hành[13] lưu tảo giám,
Thính lý[14] thượng hoàng thần.
Độc bộ tài siêu cổ,
Dư ba đức chiếu lân.
Thông minh quá Quản Lộ[15],
Xích độc đảo Trần Tuân[16].
Khởi thị trì trung vật,
Do lai tịch thượng trân.
Miếu đường tri chí lý,
Phong tục tận hoàn thuần.
Tài kiệt câu đăng dụng,
Ngu mông đãn ẩn luân.
Trường Khanh[17] đa bệnh cửu,
Tử Hạ[18] tác cư tần.
Hồi thủ khu lưu tục,
Sinh nhai tự chúng nhân.
Vu Hàm[19] bất khả vấn,
Trâu, Lỗ[20] mạc dung thân.
Cảm kích thì tương vãn,
Thương mang hứng hữu thần.
Vị công ca thử khúc,
Thế lệ tại y cân.

Dịch nghĩa

Chim phượng trải qua một kỷ theo lịch Hiên Viên,
Rồng bay trong quãng bốn chục năm.
Tám vùng đất hoang đã được khai phá thành nơi trù mật,
Một lòng mà chuyển thành quốc gia thịnh vượng.
Ân huệ là nghĩ đến kẻ từng giúp đỡ,
Màu xanh đỏ để tưởng nhớ đến vị quan già.
Cho hợp với kế hoạch nên cần loại ngựa tốt,
Thời đại kinh hoàng có được kỳ lân.
Lựa lọc vì dòng sông bị vẩn đục,
Mới được cử giữ chức vụ tả tướng điều hành công việc.
Vi Hiền vừa mới nhận chức tướng thời Hán,
Phạm Thúc về đất Tần từ lâu.
Cái nghiệp tốt đẹp như ngày nay là vậy đó,
Truyền lại những đường lối trong sách vở thật là tuyệt vời.
Cây long não mọc ra từ lòng đất sâu,
Biển xanh rộng không có bờ.
Là người chủ quản phát ngôn cho sao Bắc Đẩu,
Tại vùng phía đông lãnh đạo các quan.
Nắm quyền mà để lại lời khen ngợi,
Tiếng dép nghe vang tới tận sao.
Một mình vượt hẳn các người tài từ trước,
Cái làn sóng đức độ còn chiếu lan cả xung quanh.
Thông minh hơn cả Quản Lộ,
Thư từ giao thiệp vượt cả Trần Tuân.
Há phải là cái đồ vứt bỏ xuống ao,
Tới nay là đồ quý trên mâm.
Nơi miếu đường luật lệ rõ ràng,
Phong tục đều theo lối thường.
Người tài năng đều được dùng đến,
Kẻ ngu dại thì ẩn sâu.
Trường Khanh lắm bệnh đã lâu,
Tử Hạ quen lối sống cô đơn.
Nghĩ lại cứ chạy vạy theo thói đời,
Kiếm sống như những người bình thường khác.
Không thể hỏi ý kiến Vu Hàm,
Trâu và Lỗ không nương thân được.
Cảm kích vào lúc sắp trễ,
Nhưng hứng làm thơ lại lên cao như có thần thúc đẩy.
Vì ông tôi xin ca khúc này,
Nước mắt nước mũi dính vào áo với khăn.

Bản dịch của Phạm Doanh

Phượng qua lịch Hiên Viên một kỷ,
Bốn chục năm rồng cứ thảnh thơi.
Vùng hoang thành chốn đông vui,
Thiết lập nhà nước một lời dựng xây.
Ơn tưới xuống, nghĩ tay giúp đỡ,
Màu đỏ xanh, tưởng nhớ lão thần.
Để được việc, ngựa hoa cần,
Gặp lúc nhộn nhạo kỳ lân ra đời.
Chắt lọc vì sông ngòi vẩn đục,
Thực thi quyền hạn chức vửa trao.
Vi Hiền, tướng Hán tài cao,
Sánh ngang Phạm Thúc đã lâu về Tần.
Sự nghiệp vững nay gần như thế,
Kinh nghiệm truyền đạt chỗ rất cao.
Cây chương mọc từ đất sâu,
Bể xanh bát ngát thấy đâu bến bờ.
Cất tiếng nói thay cho sao bắc,
Tới cửa đông, dẫn giắt các quan.
Xét năng lực, ghi lời khen,
Vừa nghe tiếng dép nhận liền ra ngay.
Chỉ riêng ông tài hay quán cổ,
Sóng đức lan sáng tỏ xung quanh
Vượt Quản Lộ về thông minh,
Trần Tuân còn kém cái tình giao du.
Há chẳng phải cái đồ bỏ xó,
Quý trên mâm là cớ nào sui.
Cung vua luật lệ rạch ròi,
Phong tục xã hội phục hồi kỷ cương.
Những tài năng đều mang dùng cả,
Kẻ ngu khờ đi ở ẩn sâu.
Trường Khanh lắm bệnh đã lâu,
Tử Hạ vò võ canh thâu ra vào.
Ngồi nghĩ lại, cắm đầu theo thói,
Cách kiếm ăn cùng với người đời.
Vu Hàm chẳng hỏi được rồi,
Thân không náu nổi ở nơi cao vời.
Lòng cảm kích vào thời gần lỡ,
Nhưng hứng kia như có thần bầy.
Vì ông tôi viết bài này,
Xong rồi lệ lại rơi đầy áo khăn.
(Năm 754)

Lời dẫn: “Kiến Tố. Thiên Bảo nguyên niên cải thị trung vi tả tướng, trung thư lệnh vi hữu tướng. Thập ngũ tải, Kiến Tố tòng Minh Hoàng hạnh Thục. Chí Ba Tây, chiếu kiêm tả tướng, phong Bân quốc công.” 見素。天寶元年改侍中為左相,中書令為右相。十五載,見素從明皇幸蜀。至巴西,詔兼左相,封豳國公。 (Tên là Kiến Tố. Năm đầu Thiên Bảo (742), đổi thị trung thành tả tướng, trung thư lệnh thành hữu tướng. Năm thứ 15 (757), Kiến Tố theo Minh Hoàng chạy vào Thục. Tới Ba Tây, xuống chiếu thêm tả tướng, phong tước Bân quốc công.)

[1] Tên một hoàng đế cổ đại.
[2] Bằng 12 năm.
[3] Chỉ trời.
[4] Ân trạch của vua ban.
[5] Tranh vẽ chân dung người để ghi công.
[6] Nguyên chú: Tác phong của bậc tiền bối của Vi Kiến Tố tới nay còn được nói đến.
[7] Chỉ thánh nhân ra đời để cứu giúp dân.
[8] Vi Hiền (148 tr.CN - 60 tr.CN) tự Trường Nhụ 長孺, là một vị đại thần thời Tây Hán. Trong Hán thư có ghi chép hành trạng. Ở đây Đỗ Phủ muốn dùng điển tích Vi Hiền đời Hán để ám chỉ ông Vi thời Đường hiền lành, tài giỏi vừa nhận chức tả tướng.
[9] Phạm Thư 范睢 tự Thúc 叔, danh tướng nước Nguỵ thời Chiến Quốc, có tài du thuyết, dùng sách Viễn giao cận công 遠交近攻 (Giao hảo với kẻ ở xa, đánh kẻ gần), đem du thuyết Tần Chiêu Vương, Chiêu Vương nghe theo và phong ông làm tướng.
[10] Chỉ triều đình.
[11] Nguyên chú: “Theo Thư kinh hay Thượng thư, trong thiên Cố mệnh 顧命 chép những điều cần làm do vua Thành Vương khi lâm chung để lại, chương Tư mã đệ tứ 司馬第四, đoạn Tất công lĩnh chi 畢公領之, trong bài Khang vương chi cáo 康王之誥”. Tất công mang chư hầu phía đông vào phía bên phải cửa Ứng Môn. Vi Kiến Tố kiêm giữ chức binh bộ thượng thư, nên dùng điển nói về Tất công.
[12] Cắm cái hốt vào dây đai quấn bên lưng. Chỉ các quan hay nhà nho.
[13] Do chữ “trì hành ủng tuyền” 持衡拥璇, chỉ hành vi chấp chưởng quyền bính.
[14] Nghe tiếng dép, chỉ viên quan thân cận vua. Hán thư chép Trịnh Sùng có nhiệm vụ can gián vua, thường hay tiếp cận, khi di chuyển, tiếng dép da của ông vang lên. Mỗi khi nghe tiếng dép, vua đã cười nói: “Ta nhận ra tiếng dép của Trịnh thượng thư”.
[15] Một thuật sĩ thời Tam Quốc, tự Công Minh 公明, người Bình Nguyên, Sơn Đông, rành thiên văn, sau học thêm Kinh Dịch, rành về bói toán.
[16] Tự Mạnh Công 孟公, người Đỗ Lăng đời Đông Hán, rất hiếu khách. Mỗi khi mở tiệc, các xe cộ của khách bị dồn xuống rãnh để không thể về vội.
[17] Tư Mã Tương Như 司馬相如, hiệu Trường Khanh, người đất Thục (Thành Đô, Tứ Xuyên) đời Tây Hán, tài viết phú. Ông cũng như Đỗ Phủ, mắc chứng bệnh tiểu đường.
[18] Bốc Thương 卜商 (507 tr.CN - 400 tr.CN), tự Tử Hạ, người nước Vệ thời Xuân Thu, học trò của Khổng Tử, giỏi về văn học. Sau khi Khổng Tử qua đời, Tử Hạ dạy học ở Tây Hà, là thầy của Nguỵ Văn Hầu.
[19] Tên một vị quan đời Ân. Tương truyền ông là người chế ra trống dùng cái này trong việc bói toán, chiêm tinh.
[20] Quê của Mạnh Tử và Khổng Tử, chỉ nơi văn hoá, giáo dục cực thịnh.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Thướng Vi tả tướng nhị thập vận