21/06/2021 08:14Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Thang bàn phú
湯盤賦

Tác giả: Khuyết danh Việt Nam

Thể thơ: Phú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Lý-Trần
Đăng bởi Vanachi vào 31/05/2008 13:05

 

Nguyên tác

猗歟成湯,濬哲溫良。
仁風馺沓兮九有;義武顯赫兮四方。
乃丈大順;革夏委商。
參天地以立極;正萬國之紀綱。
掃氛埃於絕域;陶元氣於遐荒。
然由慚台德之未一;恐大道之靡常。
乃懋昭其大德;思與日而齊光。
爰作盤以日俗;庶澡雪而昭彰。

是盤也:
形模堅朴;器量恢洪。
圓規象日;受夫含空。
湛湛乎波光之蕩漾;淵淵乎水色之玲瓏。
涬廉泉而塵太澤;奴承露而稚金銅。
此吾知其非徒事於洗滌,而必垂訓於無窮者也。

蓋日者君之象;盤者月之形。
雖圓魄不易其舊體;而靈曜常其新明。
念聖人之體道;固於斯而有得。
原降衷之恆性;若日月之赫奕。
恐私慾之一萌;如雲霧之四塞。
累至性之虛明;失本心之洞徹。
乃作明於斯盤;寓至誠之不息。
既澡雪其昏埃;又克明於俊德。
于以存省察之功;于以極函養之力。
于以昭濯濯之靈;于以著煌煌之寔。
于以標至善於斯民;于以洗舊污於萬國。
于以釋前日之慚心;于以垂俊後王之丕則。
此其功用可以配於乾坤;性情可以同於日月。
豈止疏淪其皮膚;而望一身之蠲潔也哉。

想其:
長沐則休祥長發;日浴則聖敬日躋。
凜凜乎若臨淵之恐墜;冷冷乎若啟沃之已垂。
既湔祓於桑林之禱雨;又齋肅於莘野之弊儀。
握髮未晞,思施擇於百姓;澡身而淨,昭濬潔於九圍。
盤一用而銘一規;心愈瑩而德愈輝。

暨夫:
克寬克仁,彰信兆民。
百祿是總,為天下民。
体乾坤之覆載,與萬物而為春。
允德協下,萬邦維新。
氣弊可除,政事日醇。
物態以之溶潷;民風以之真淳。
亦莫不由於斯盤,以成和器之氤氳者也。

溠夫!
道不自見,以器而見;器不自壽,以銘而壽。
岐陽之鼓十;大禹之鼎九。
彼至寶之尚湮;況銘盤之不朽。
苟日新之無聞;信於爾乎何有。
此予生之長勤;企前而羞而己後。
聊作歌以自勉;願持誠於永久。

歌曰:
湯盤兮赫曦,
象日兮捐規。
群生兮潤澤,
聖敬兮日躋。
盤銘兮九字,
千古兮不墜。
人欲兮淨盡,
聖德兮光輝。
嗟予生兮日誦,
庶予學兮緝熙。
其萬宇兮玉燭,
仰吾道兮重熙。

Phiên âm

Y dư Thành Thang, tuấn triết ôn lương.
Nhân phong táp đạp hề cửu hữu; nghĩa võ hiển hách hề tứ phương.
Nãi trượng đại thuận; cách Hạ vi Thương.
Tam thiên địa dĩ lập cực; chính vạn quốc chi kỷ cương.
Tảo phân ai ư tuyệt vực; đào nguyên khí ư hà hoang.
Nhiên do tàm di đức chi vị nhất; khủng đại đạo chi mị thường.
Nãi mậu chiêu kỳ đại đức; tư dư nhật nhi tề quang.
Viên tác bàn dĩ nhật dục; thứ táo tuyết nhi chiêu chương.

Thị bàn dã:
Hình mô kiên phác; khí lượng khôi hồng.
Viên quy tượng nhật; thụ phù hàm không.
Trạm trạm hồ ba quang chi đãng dạng; uyên uyên hồ thuỷ sắc chi linh lung.
Trĩ Liêm Tuyền nhi trần Thái Trạch; nô Thừa Lộ nhi trĩ Kim Đồng.
Thử ngô tri kỳ phi đồ sự ư tẩy địch; nhi tất thuỳ huấn ư vô cùng giả dã.

Cái nhật giả, quân chi tượng; bản giả, nguyệt chi hình.
Tuy viên phách bất dịch kỳ cựu thể; nhi linh diệu thường đổ kỳ tân minh.
Niệm thánh nhân chi thể đạo; cố ư tư nhi hữu đắc.
Nguyên giáng trung chi hằng tính; nhược nhật nguyệt chi hách dịch.
Khủng tự dục chi nhất manh; như vân vụ chi tứ tắc.
Luỵ chí tính chi hư minh; thất bản tâm chi động triệt.
Nãi tác minh ư tư bàn; ngụ chí thành vu bất tức.
Ký táo tuyết kỳ hôn ai; hựu khắc minh ư tuấn đức.
Vu dĩ tồn tỉnh sát chi công; vu dĩ cực hàm dưỡng chi lực.
Vu dĩ chiêu trạc trạc chi linh; vu dĩ trứ hoàng hoàng chi thực.
Vu dĩ tiêu chí thiện ư tư dân; vu dĩ tẩy cựu ô chi vạn quốc.
Vu dĩ thích tiền nhật chi tàm tâm, vu dĩ thuỳ hậu vương chi phi tắc.
Thử kỳ công dụng khả dĩ phối ư càn khôn; tính tình khả dĩ đồng ư nhật nguyệt.
Khởi chỉ sơ dược kỳ bì phu, nhi vọng nhất thân chi quyên khiết dã tai.

Tưởng kỳ:
Trường mộc tắc hưu tường trường phát; nhật dục tắc thánh kính nhật tê.
Lẫm lẫm hồ nhược lâm uyên chi khủng truỵ; lãnh lãnh hồ nhược khải ốc chi dĩ thuỳ.
Ký tiễn phất ư Tang Lâm chi đảo vũ; hựu trai túc ư Sằn Dã chi tệ nghi.
Ác phát vị hy, tư thi trạch ư bách tính; tảo thân nhi tịnh, chiêu tuấn khiết ư cửu vi.
Bàn nhất dụng nhi minh nhất quy; tâm dũ huỳnh nhi đức dũ huy.

Kỳ phù:
Khắc khoan khắc nhân, chương tín triệu dân.
Bách lộc thị tổng, vi thiên hạ dân.
Thể càn khôn chi phúc tái, dữ vạn vật nhi vi xuân.
Duẫn đức hiệp hạ, vạn bang duy tân.
Vô tệ khả trừ, chính sự nhật thuần.
Vật thái dĩ chi nhi dung tiết, dân phong dĩ chi chân thuần.
Diệc mạc bất do ư tư bàn, dĩ thành hoà khí chi nhân uẩn giả dã!

Ta phù!
Đạo bất tự hiện, dĩ khí nhi hiện; khí bất tự thọ, dĩ minh nhi thọ.
Kỳ Dương chi cổ thập; Đại Vũ chi đỉnh cửu.
Bỉ chí bảo chi thượng nhân; huống minh bàn nhi bất hủ.
Cẩu nhật tân chi vô văn; tín ư nhĩ hồ hà hữu.
Thử dư sinh chi trường cần; xí tiền tu nhi kỷ hậu.
Liêu tác ca dĩ tự miễn; nguyện trì thành ư vĩnh cửu.

Ca viết:
Thang bàn hề hách hi,
Tượng nhật hề viên quy.
Quần sinh hề nhuận trạch,
Thánh kính hề nhật tê.
Bàn minh hề cửu tự,
Thiên cổ hề bất truy.
Nhân dục hề tịnh tận,
Thánh đức hề quang huy.
Ta dư sinh hề nhật tụng,
Thứ dư học hề thấp hy.
Kỳ vạn vũ hề ngọc chúc,
Ngưỡng ngô đạo hề trùng hy.

Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ, Đào Thái Tôn

Đẹp thay Thành Thang, sáng suốt ôn lương.
Gió nhân chan hoà chín cõi; dấu nghĩa huy hoàng bốn phương.
Nhân lòng người thuận; đổi Hà làm Thương.
Giúp trời đất để dựng ngôi hoàng cực; vì muôn bang nên sửa lại kỷ cương.
Quét bụi độc ở nơi xa thẳm; nhào nguyên khí ở chốn hoang lương.
Song còn thẹn đức cao chưa khắp; lại lo đạo cả không thường.
Bèn gắng sáng tỏ đức lớn; lo cùng vầng nhật sánh ngang.
Nên làm chậu ngày ngày tắm gội; ngõ hầu cho tinh khiết rỡ ràng.

Cái chậu này:
Dáng hình bền chắc; sức chứa khôn lường.
Tròn như vầng nhật; chứa cả hư không.
Thăm thẳm tứa sóng xô bờ óng ánh; dạt dào như nước chảy sắc long lanh.
Cho Thái Trạch với Liêm Tuyền đều vẩn đục; xem Kim Đồng cùng Thừa Lộ thảy tôi đòi.
Điều đó làm ta biết chậu này chẳng phải chỉ dùng tắm gội, mà ắt để lưu lại lời dạy mãi đến vô cùng vậy.

Bởi lẽ, mặt trời là biểu tượng của nhà vua; chiếc chậu là tượng hình cho mặt nguyệt.
Tuy dáng tròn vẫn không đổi thể xưa; mà ánh sáng vẫn thấy luôn đổi mới.
Chắc thánh nhân khi thể nghiệm đạo trời; sẽ nhận ở chậu này nhiều tâm đắc.
Nguyên tính thường của trời ban xuống; cũng sáng loà như vầng nhật nguyệt kia.
Sợ khi tư dục nẩy mầm; lòng người bị mây mù lấp lú.
Làm luỵ đến đức sáng trong của hòng hiếu đễ; làm mất đi sự trong sáng của lòng thiện ác.
Bèn khắc bài minh ở chậu này; ngụ tấm lòng thành nơi bất diệt.
Đã rửa sạch được bụi nhơ; lại sáng ngời được đức lớn.
Để giữ mãi công tự xét mình; làm cho tột cùng cái sức hàm dưỡng.
Để tâm linh trong trắng rỡ ràng; để thực tính rạng ngời tươi tốt.
Để nêu gương chí thiện với dân này; để rửa cái nhơ xưa cho muôn nước.
Để xoá nhoà mọi hổ thẹn ngày xưa; để lưu lại phép lớn lao cho vua nối.
Như vậy công dựng ấy có thể sánh với đất trời; tính tình ấy có thể sánh cùng nhật nguyệt.
Há phải chỉ là tắm rửa ngoài da, mong tấm thân mình sạch sẽ mà thôi?

Nghĩ rằng:
Tắm mãi điềm lành sinh mãi; gội luôn thì thánh kính càng cao.
Rờn rợn như bên vực sâu thường sợ rớt; mát mẻ như công dội tưới đã ngấm vào.
Đã tắm gội khi Tang Lâm đảo vũ; lại chay thành nơi Sằn Dã lễ trao.
Vắt tóc chưa khô, nghĩ ra ơn cùng trăm họ; rửa mình cho sạch, ngời đức tốt với chín châu.
Chậu dùng lời minh càng vẹn; lòng càng sáng đức lại càng cao.

Đến khi:
Càng khoan càng nhân, đức ngời muôn dân.
Thâu tóm trăm lộc, làm đấng nhân quân.
Nhờ chở che của trời đất, cùng muôn vật trở thành xuân.
Đức lành hoà hiệp, muôn nước duy tân.
Chẳng còn tệ gì mà bỏ, chính sự ngày càng thêm thuần.
Vật thái vì thế mà trong trẻo, dân phòng vì vậy lại càng thuần.
Thế chẳng cũng là không có gì không do chậu này mà trở thành hoà nghi ngút đó ư?

Than ôi!
Đạo không tự hiện, nhờ vật mà hiện; chậu không còn mãi, nhờ minh mà còn.
Mười trống đá ở Kỳ Dương, chín vạc của vua Đại Vũ.
Đều là những vật rất quý mà còn bị tiêu ma, huống cái chậu có bài minh này sao không nát được?
Nếu hai chữ “Nhật tân” không có, thì chiếc chậu kia có đáng nói gì.
Như ta nay chăm chỉ không ngừng, mà theo gót người xưa còn chẳng kịp.
Nên tác ca để khích lệ mình, nguyện giữ một chữ “thành” mãi mãi.

Ca rằng
Cháu vua Thang rực rỡ,
Khác chi mặt trời tròn.
Muôn dân nhuần ân trạch,
Thánh kinh ngày cao hơn.
Chín chữ trên bài minh,
Dù muôn đời không nát.
Nhân dục sạch làu làu,
Thánh đức càng thêm sáng.
Ta hàng ngày tâm niệm,
Đạo học vốn dài lâu?
Đuốc ngọc soi rộng khắp,
Đạo ta thịnh đời đời.
Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập III), NXB Khoa học xã hội, 1978

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Khuyết danh Việt Nam » Thang bàn phú