11/05/2021 15:09Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Dân dao
民謠

Tác giả: Vưu Đồng - 尤侗

Thể thơ: Cổ phong (cổ thể); Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thanh
Đăng bởi tôn tiền tử vào 29/03/2019 20:40

 

Nguyên tác

急丈田,長洲縣。
田幾何?百餘萬。
奉部文,一年限。
朝廷丈田除浮粮,
浮粮若除須補亡。
下跨河水上山岡,
菜畦菱蕩都抵當。
插旗四角周中央,
男奔女走群慞惶 。
上官督縣令,
縣令責里正。
里正不識弓尺寸,
轉雇狙獪代持籌,
長短方圓一手定。
一手定,一手更。
私田縮,官田盈。
移重挪輕無不有,
田主瞠眼不敢爭。
縣家覆丈豈能遍,
但取溢額可考成。
急丈田,限一年。
官比票,吏索錢。
官田未見增什一,
民錢已聞費萬千。
君不見:
一縣圖書七百四十一,
日造黄冊堆積高於山。

Phiên âm

Cấp trượng điền, Trường Châu[1] huyện.
Điền kỷ hà? Bách dư vạn.
Phụng bộ văn, nhất niên hạn.
Triều đình trượng điền trừ phù lương[2],
Phù lương nhược trừ tu bổ vương (vong).
Hạ khoá hà thuỷ thượng sơn cương,
Thái huề lăng đãng đô để đương.
Tháp kỳ[3] tứ giác chu trung ương,
Nam bôn nữ tẩu quần chương hoàng.
Thượng quan đốc huyện lệnh,
Huyện lệnh trách lý chính.
Lý chính bất thức cung xích thốn,
Chuyển cố thủ cối đại trì trù,
Trường đoản phương viên nhất thủ định.
Nhất thủ định, nhất thủ canh.
Tư điền súc, quan điền doanh.
Di trọng na khinh vô bất hữu,
Điền chủ xanh nhãn bất cảm tranh.
Huyện gia phú trượng khởi năng biến,
Đãn thủ dật ngạch khả khảo thành.
Cấp trượng điền, hạn nhất niên.
Quan tỷ phiếu[4], lại sách tiền.
Quan điền vị kiến tăng thập nhất,
Dân tiền dĩ tăng phí vạn thiên.
Quân bất kiến:
Nhất huyện đồ thư thất bách tứ thập nhất,
Nhật tạo hoàng sách[5] đôi tích cao vu san.

Dịch nghĩa

Đo ruộng gấp huyện Trường Châu
Ruộng bao nhiêu? Hơn trăm vạn
Công văn bộ hạn một năm
Triều đình đo ruộng trừ thóc ngoại ngạch
Trừ thóc ngoại ngạch cần phải bổ nơi nào còn sót
Dưới đến mặt nước sông, trên đến mỏm núi
Vạt rau, đám ấu đều phải đóng thuế
Cắm cờ bốn góc làm chừng
Trai chuồn gái chạy thảy nhớn nhác
Quan trên đốc xuống huyện
Huyện dồn đến làng xã
Các ông lý không biết cách đo
Phải thuê bọn gian giảo tính toán hộ
Dài ngắn vuông tròn nắm trong tay
Tuỳ mà quyết định thay đổi
Ruộng tư thiếu ruộng công thừa
Bên nặng bên nhẹ đủ điều
Chủ ruộng chớn mắt ra không dám tranh cãi
Huyện đo sao mà khắp được
Chỉ cần dư ngạch là xong
Đo ruộng gấp, hạn một năm
Quan so phiếu, lại đòi tiền
Ruộng công mười chưa thấy tăng một
Tiền dân dã phung phí nghìn vạn
Bác chẳng thấy:
Trong một huyện, có đến bảy trăm bốn mươi mốt bản vẽ ghi chép
Hằng ngày lập thành hộ khẩu cao như núi.

Bản dịch của Lê Xuân Khải

Huyện Trường Châu ruộng đo gấp hạn
Ruộng bao nhiêu,trăm vạn có dư
Hạn một năm giấy bộ tư
Triều đình đo ruộng có trừ phù lương
Trừ phù lương nhớ đừng bỏ sót
Dưới mặt sông trên đất đồi gò
Không chừa đám ấu luống ngô
Cắm cờ bốn góc sau đo làm chừng
Trai lại gái chạy quàng nhớn nhác
Lệnh quan trên đốc các huyện đường
Huyện đường trách cứ lý làng
Lý làng chẳng biết tấc gang vuông tròn
Phải thuê bọn gian ngoan tính toán
Vuông rồi tròn dài ngắn trong tay
Một tay vạch một tay thay
Ruộng tư thiếu hụt đủ đầy ruộng công
Thói nặng nhẹ hẳn không bớt giảm
Chủ ruộng nhìn chẳng dám nói năng
Huyện sao đo khắp ruộng đồng
Cốt sao đủ ngạch nên công cán rồi
Đo ruộng gấp năm trời là hạn
Phiếu quan so lại đến thu tiền
Đất đồng vẫn vậy y nguyên
Nghe dân đã phí vạn nghìn tiền năm
Một huyện có bẩy trăm bốn mốt
Bác thấy không sổ chất núi cao
Nhà cầm quyền đầu Thanh lấy danh nghĩa là đo ruộng đất, không từ thủ đoạn cướp ruộng đất của tư nhân, tác giả ngụ ý phê phán việc làm này.

[1] Nay thuộc Giang Tô, Tô Châu.
[2] Lương thu ngoại ngạch.
[3] Cắm cờ bốn góc làm mốc, rồi đo diện tích sau.
[4] Nhà Thanh thu thuế bằng tiền.
[5] Bìa sổ hộ khẩu mầu vàng.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Vưu Đồng » Dân dao