05/08/2021 21:12Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Chữ nhàn bài 1

Tác giả: Nguyễn Công Trứ - 阮公著

Thể thơ: Ca trù (hát nói); Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 26/08/2005 17:18

 

Thị tại môn tiền náo,
Nguyệt lai môn hạ nhàn.[1]
So lao tâm lao lực[2] cũng một đàn,
Người trần thế muốn nhàn sao được?
Nên phải giữ lấy nhàn làm trước,
Dẫu trời cho có tiếc cũng xin nài.
Cuộc nhân sinh chừng bảy tám chín mười mươi,
Mười lăm trẻ, năm mươi già, không kể.
Thoắt sinh ra thì đà khóc choé,
Trần có vui sao chẳng cười khì?
Khi hỷ lạc, khi ái dục, lúc sầu bi[3],
Chứa chi lắm một bầu nhân dục[4].
Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc,
Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn?[5]
Cầm kỳ thi tửu với giang san,
Dễ mấy kẻ xuất trần xuất thế.
Ngã kim nhật tại toạ chi địa,
Cổ chi nhân tằng tiên ngã toạ chi.[6]
Ngàn muôn năm âu cũng thế ni,
Ai hay hát mà ai hay nghe hát?
Sông Xích Bích buông thuyền năm Nhâm Tuất,
Để ông Tô[7] riêng một thú thanh tao.
Chữ nhàn là chữ làm sao?
Bài này được nhiều người coi là tuyệt tác trong các bài hát nói. Tác giả vạch rõ chữ nhàn rất dễ kiếm, ai cũng có thể có, dễ như thế mà các thi nhân từ xưa chưa tìm ra được. Những câu thơ cổ tác giả mượn dẫn vào thực là đắc cú, phân minh, chuyển đi láy lại tài tình. Vì thế xưa khách phong lưu đi hát ưa nghe bài này, là có ý mượn tiếng giai nhân để kể lại áng văn chương danh cú.

Nguồn:
1. Thơ văn Nguyễn Công Trứ, Trương Chính biên soạn & giới thiệu, NXB Văn học, 1983
2. Nguyễn Tường Phượng, Phan Văn Sách, Bùi Hữu Sủng, Việt văn diễn giảng hậu bán thế kỷ thứ XIX, Trường Nguyễn Khuyến xuất bản, Hà Nội, 1953
3. Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề, Việt Nam ca trù biên khảo, Nhà in Văn Khoa, Sài Gòn, 1962
[1] Chữ Hán: 市在門前鬧,月來門下閒. Nghĩa: Chợ ở trước cửa thì huyên náo, Trăng soi dưới cửa thì thanh nhàn. Tác giả dùng lối chiết tự: chữ “náo” gồm chữ “thị” nằm trong chữ “môn”, chữ “nhàn” gồm chữ “nguyệt” nằm trong chữ “môn”.
[2] Người khó nhọc về làm việc trí óc, và người khó nhọc về làm việc bằng tay chân. Ý nói cả hai cũng như nhau đều không nhàn.
[3] Có bản chép là “Khi ân ái, khi ai lạc, lúc sân si”.
[4] Túi chứa lòng ham muốn của con người.
[5] Chữ Hán: 知足便足;待足何時足,知閒便閒,待閒何時閒. Nghĩa: Biết đủ là đủ, đợi cho đủ thì bao giờ mới đủ; Biết nhàn là nhàn, đợi cho nhàn thì bao giờ mới nhàn. Chữ từ Tuý ngữ lục.
[6] Chữ Hán: 我今日在坐之地,古之人曾先我坐之. Nghĩa: Chỗ ta đang ngồi hôm nay thì người xưa đã từng ngồi trước rồi. Hai câu này ở bài tựa truyện Tây sương ký của Vương Thực Phủ đời Nguyên.
[7] Tô Thức hay Tô Đông Pha đời nhà Tống, một trong bát đại gia của văn chương Trung Quốc, thường hay cùng bạn thả thuyền chơi trên sông Xích Bích. Ông là tác giả của hai bài phú nổi tiếng Tiền Xích Bích phúHậu Xích Bích phú.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Công Trứ » Chữ nhàn bài 1