02/07/2022 18:07Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Thảo đường
草堂

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 26/10/2005 00:20

 

Nguyên tác

昔我去草堂,
蠻夷塞成都。
今我歸草堂,
成都适無虞。
請陳初亂時,
返復乃須臾。
大將赴朝廷,
群小起異圖。
中宵斬白馬,
盟歃氣已粗。
西取邛南兵,
北斷劍閣隅。
布衣數十人,
亦擁專城居。
其勢不兩大,
始聞蕃漢殊。
西卒卻倒戈,
賊臣互相誅。
焉知肘腋禍,
自及梟獍徒。
義士皆痛憤,
紀綱亂相逾。
一國實三公,
萬人欲為魚。
唱和作威福,
孰肯辨無辜。
眼前列杻械,
背後吹笙竽。
談笑行殺戮,
濺血滿長衢。
到今用鉞地,
風雨聞號呼。
鬼妾與鬼馬,
色悲充爾娛。
國家法令在,
此又足驚吁。
賤子且奔走,
三年望東吳。
弧矢暗江海,
難為遊五湖。
不忍竟舍此,
復來薙榛蕪。
入門四松在,
步屧萬竹疏。
舊犬喜我歸,
低徊入衣裾。
鄰舍喜我歸,
酤酒攜胡蘆。
大官喜我來,
遣騎問所須。
城郭喜我來,
賓客隘村墟。
天下尚未寧,
健兒勝腐儒。
飄搖風塵際,
何地寘老夫。
于時見疣贅,
骨髓幸未枯。
飲噣愧殘生,
食薇不敢餘。

Phiên âm

Tích ngã khứ thảo đường,
Man di[1] tắc Thành Đô.
Kim ngã quy thảo đường,
Thành Đô thích vô ngu.
Thỉnh trần sơ loạn thì,
Phản phúc nãi tu du.
Đại tướng[2] phó triều đình,
Quần tiểu khởi dị đồ.
Trung tiêu trảm bạch mã,
Minh sáp khí dĩ thô.
Tây thủ Cùng Nam[3] binh,
Bắc đoạn Kiếm Các[4] ngu.
Bố y sổ thập nhân,
Diệc ủng chuyên thành cư.
Kỳ thế bất lưỡng đại,
Thuỷ văn Phiên Hán thù.
Tây tốt khước đảo qua,
Tặc thần hỗ tương tru[5].
Yên tri trửu dịch hoạ,
Tự cập kiêu cánh đồ.
Nghĩa sĩ giai thống phẫn,
Kỷ cương loạn tương du.
Nhất quốc thực tam công,
Vạn nhân dục vi ngư.
Xướng hoạ tác uy phúc,
Thục khẳng biện vô cô?
Nhãn tiền liệt nữu giới,
Bối hậu xuy sinh vu.
Đàm tiếu hành sát lục,
Tiết huyễn mãn trường cù.
Đáo kim dụng việt địa,
Phong vũ văn hào hô.
Quỷ thiếp dữ quỷ mã,
Sắc bi sung nhĩ ngu.
Quốc gia pháp lệnh tại,
Thử hựu túc kinh hu.
Tiện tự thả bôn tẩu,
Tam niên vọng Đông Ngô.
Hồ thỉ ám giang hải,
Nan vi du Ngũ Hồ[6].
Bất nhẫn cánh xả thử,
Phục lai trĩ trăn vu.
Nhập môn tứ tùng tại,
Bộ điệp vạn trúc sơ.
Cựu khuyển hỷ ngã quy,
Đê hồi nhập y cư.
Lân xá hỷ ngã quy,
Cô tửu huề hồ lô.
Đại quan hỷ ngã lai,
Khiển kỵ vấn sở tu.
Thành quách hỷ ngã lai,
Tân khách ải thôn khư.
Thiên hạ thượng vi ninh,
Kiện nhi thắng hủ nho.
Phiêu phiêu phong trần tế,
Hà địa trí lão phu?
Ư thì kiến vưu chuế,
Cốt tuỷ hạnh vi khô.
Ẩm trác quý tàn sinh,
Thực vi bất cảm dư.

Dịch nghĩa

Khi xưa, ta bỏ nhà cỏ ra đi
Lũ man rợ chật ních Thành Đô
Nay ta trở lại nhà cỏ
Vừa đúng lúc Thành Đô hết lo lắng
Xin giãi bày lúc mới loạn
Giáo giở từng phút giây
Quan đại tướng về triều đình
Bọn tiểu nhân liền nảy mưu dấy loạn
Nửa đêm giết ngựa trắng
Uống máu ăn thề, chí khí thô bạo
Phía tây, lấy quân ở Cùng Nam
Phía bắc, chặn đường góc Kiếm Các
Vài chục anh áo vải
Cũng chệm chễ làm chủ một thành
Nhưng hai thế lực không thể cùng lớn
Bắt đầu đã nghe có sự phân biệt giữa Hán và Phiên
Bọn lính bên tây liền trở giáo
Lũ bề tôi giặc tàn sát lẫn nhau
Ai ngờ tai hoạ nơi kẽ nách
Đã xảy tới cho bọn diều quạ sài lang
Bậc nghĩa sĩ đều căm giận sâu sắc
Phép tắc bị giày xéo bừa bãi
Một nước có đến ba chủ ông
Muôn dân hầu biến thành cá trốc thớt!
Chúng kẻ xướng người hoạ, tác phúc tác oai
Ai người chịu bênh vực cho dân lành vô tội!
Trước mặt bày la liệt những gông cùm
Sau lưng vẫn réo rắt đàn sáo
Cười nói đấy rồi giết người ngay đấy
Máu tươi phun đầy những quãng đường dài
Đến nay những chỗ chém người
Tiếng kêu gào còn văng vẳng trong mưa gió
Lấy vợ ma, cưỡi ngựa ma
Vẻ đau khổ của người làm cho người vui vẻ
Pháp luật nhà nước còn kia
Đến nước ấy thật đáng giật mình sợ thét!
Kẻ hèn này vẫn nay đây mai đó
Ba năm ròng trông ngóng sang Đông Ngô
Cung tên còn tối tăm cả sông biển
Khó lòng được rong chơi cảnh Năm Hồ
Không nỡ bỏ hẳn chốn này
Nên lại quay về phạt gai, giẫy cỏ
Bước vào cửa, bốn cây thông vẫn còn
Kéo đôi guốc dưới muôn cây trúc thưa thoáng
Con chó cũ mừng ta về
Quấn quít chui cả vào vạt áo
Hàng xóm mừng ta về
Rượu ngon xách từng bầu đến
Quan lớn mừng ta về
Sai lính cưỡi ngựa đến hỏi xem có cần gì
Dân quanh thành quách mừng ta về
Khách khứa chật ních cả gò bãi trong thôn
Thiên hạ còn chưa được yên
Tráng sĩ quý hơn anh đồ hủ
Trôi dạt hoài trong gió bụi
Thân già biết gửi vào đâu?
Đối với đời cảm thấy mình như cục thịt bướu
May xương tuỷ hãy còn chưa khô kiệt
Quãng đời tàn, thẹn ăn bám của đời
Đến cả ngọn rau vi cũng không dám dùng bừa bãi

Bản dịch của Nhượng Tống

Trước ta lìa nhà tranh,
Thành Đô giặc đầy tràn.
Nay ta về nhà tranh,
Thành Đô lại yên hàn.
Xin kể khi mới loạn,
Bỗng chốc sinh tai nàn.
Quan lớn về triều đình,
Tụi nhỏ bày mưu gian.
Nửa đêm chém ngựa trắng,
Thề thốt thảy nhơn nhơn.
Bắc chặn lối Kiếm Các,
Tây lấy quân Nam An.
Mấy chục thằng áo vải,
Cũng lập riêng giang sơn.
Thế chẳng ai chịu ai,
Mán, Kinh chia từng đoàn.
Quân lính giở giáo hoài,
Tướng giặc giết nhau tràn.
Biến sinh ngay cạnh nách,
Đáng kiếp phường gian ngoan.
Rường mối rối lung tung,
Nghĩa sĩ đều căm gan.
Một nước chốc ba vua,
Trăm họ khổ muôn vàn.
Ra ơn rồi ra oai,
Thương đâu kẻ hàm oan.
Sau lưng đàn sáo vang,
Trước mắt gông cùm dàn.
Vừa cười vừa giết người,
Máu tưới đầy đường quan.
Tới nay nơi hành hình,
Mưa gió nghe kêu van.
Vợ ma rồi ngựa ma,
Sung sướng quân tham tàn.
Phép nước nào còn đâu,
Càng nghĩ càng tân toan.
Thân hèn chạy sang Ngô,
Ba năm mong giặc tan.
Cung tên rợp Năm Hồ,
Khôn tả con thuyền nan.
Nay về dọn gai góc,
Cảnh cũ dạ bàn hoàn.
Trước hiên tre mọc cao,
Ngoài cửa thông xanh rờn!
Chó cũ mừng ta về,
Quẩn chân vẻ mừng rơn.
Hàng xóm mừng ta về,
Bầu rượu cùng chia san.
Quan lớn mừng ta về,
Sai hỏi cần gì hơn.
Trong thành mừng ta về,
Chật ngõ khách đầy dàn.
Hủ nho thua tráng sĩ,
Thiên hạ buổi lầm than!
Thân già chứa vào đâu ?
Gió bụi còn mê man.
Ở đời như thịt bướu,
Máu tủy may chưa khan.
Ăn rau ăn cả gốc,
Sống thừa đâu dám hờn.
(Năm 764)

Thảo đường là nhà của Đỗ Phủ ở Thành Đô, Tứ Xuyên.

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
[1] Ý nói loạn Từ Tri Đạo (762).
[2] Chỉ Nghiêm Vũ. Tháng 7 năm 763, Vũ đang ở Từ Châu được triệu về kinh.
[3] Tức Cùng Châu, nay là huyện Cùng Lại, tỉnh Tứ Xuyên.
[4] Tức núi Kiếm Môn, ở phía bắc tỉnh Tứ Xuyên.
[5] Ý chỉ Từ Tri Đạo bị bộ hạ là Lý Trung Hậu giết chết.
[6] Tức Thái Hồ ở tỉnh Giang Tô

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Thảo đường