29/11/2021 05:59Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Khiển hoài (Tích giả dữ Cao, Lý)
遣懷(昔者與高李)

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 28/02/2015 22:22

 

Nguyên tác

昔者與高李,
晚登單父臺。
寒蕪際碣石,
萬里風雲來。
桑柘葉如雨,
飛藿去裴回。
清霜大澤凍,
禽獸有餘哀。
是時倉廩實,
洞達寰區開。
猛士思滅胡,
將帥望三台。
君王無所惜,
駕馭英雄材。
幽燕盛用武,
供給亦勞哉。
吳門轉粟帛,
泛海陵蓬萊。
肉食三十萬,
獵射起黃埃。
隔河憶長眺,
青歲已摧頹。
不及少年日,
無復故人杯。
賦詩獨流涕,
亂世想賢才。
有能市駿骨,
莫恨少龍媒。
商山議得失,
蜀主脫嫌猜。
呂尚封國邑,
傅說已鹽梅。
景晏楚山深,
水鶴去低回。
龐公任本性,
攜子臥蒼苔。

Phiên âm

Tích giả dữ Cao, Lý,
Vãn đăng Đơn Phụ[1] đài.
Hàn vu tế Kiệt Thạch[2],
Vạn lý phong vân lai.
Tang trá diệp như vũ,
Phi hoắc khứ bồi hồi.
Thanh sương đại trạch đống,
Cầm thú hữu dư ai.
Thị thì thương lẫm thực,
Đỗng đạt hoàn khu khai.
Mãnh sĩ tư diệt Hồ,
Tướng suý vọng Tam Đài.
Quân vương vô sở tích,
Giá ngự anh hùng tài.
U Yên thịnh dụng vũ,
Cung cấp diệc lao tai.
Ngô Môn chuyển túc bạch,
Phiếm hải lăng Bồng Lai.
Nhục thực tam thập vạn,
Liệp xạ khởi hoàng ai.
Cách hà ức trường diểu,
Thanh tuế dĩ thôi đồi.
Bất cập thiếu niên nhật,
Vô phục cố nhân bôi.
Phú thi độc lưu thế,
Loạn thế tưởng hiền tài.
Hữu năng thị tuấn cốt[3],
Mạc hận thiếu Long Môi.
Thương Sơn[4] hận đắc thất,
Thục chủ thoát hiềm sai[5].
Lã Thượng[6] phong quốc ấp,
Phó Duyệt[7] dĩ diêm môi[8].
Cảnh yến Sở sơn[9] thâm,
Thuỷ hạc khứ đê hồi.
Bàng công[10] nhiệm bản tính,
Huề tử ngoạ thương đài.

Dịch nghĩa

Trước kia cùng với Cao Thích, Lý Bạch,
Một chiều lên đài Đơn Phụ.
Cỏ lạnh che lấp núi Kiệt Thạch,
Gió mây từ vạn dặm bay về.
Ruộng dâu lá dày như mưa,
Rau hoắc lay động phất phới.
Sương trong đóng váng trên mặt đầm lớn,
Cầm thú có mẹ quây quần.
Lúc đó kho nhà vua đầy của cải,
Đường đi lại đều được thông suốt.
Binh sĩ nghĩ đến việc dẹp giặc Hồ,
Tướng thì lo lập công để được phong tam công.
Vua không có gì tiếc hận cả,
Luôn luôn tìm người có tài.
Vùng U Yên dùng quân đội nhiều,
Nên việc cung cấp thật vất vả.
Ngô Môn chuyển thóc vải lên,
Vượt bể lên tới Bồng Lai.
Thịt ăn ba chục vạn,
Săn bắn bụi vàng tung trời.
Cách sông nhớ lúc ngóng nơi xa,
Lúc trẻ đã bị lận đận rồi.
Đã không lấy lại được thuở niên thiếu,
Mà cũng không có được chén rượu cùng người xưa.
Khi làm thơ thì nước mắt lã chã,
Đời loạn nhớ đến các người tài giỏi.
Có thể bỏ tiền mua được bộ xương ngựa tốt,
Đừng có buồn rằng không có giống Long Môi.
Nơi Thương Sơn bàn về lẽ còn mất,
Vua Thục thoát được cảnh ngờ vực.
Lã Thượng được phong đất,
Phó Duyệt được coi như muối hành.
Thời gian qua, cảnh vật thay đổi nơi núi Sở thâm sâu,
Hạc nước bỏ đi nay âm thầm về.
Ông Bàng Đức Công cố giữ bản tính mình,
Giắt con vào nằm chốn rêu xanh.

Bản dịch của Phạm Doanh

Xưa cùng bạn Cao, Lý,
Đài Đơn Phụ chiều chơi.
Cỏ lạnh che Kiệt Thạch,
Vạn dặm mây gió trôi.
Vườn dâu như mưa trút,
Rau hoắc bay bời bời.
Sương trong đóng đầm rộng,
Bầy muông thú thảnh thơi.
Lúc đó kho đầy ắp,
Đường đi thông khắp nơi.
Binh sĩ quyết diệt giặc,
Tướng lĩnh mong tam đài.
Lòng vua không tiếc nuối,
Tiếp đón kẻ hiền tài.
U Yên hành quân lắm,
Tiếp vận mệt đứt hơi.
Ngô Môn chuyển vải thóc,
Vượt bể tới Bồng Lai.
Thịt ăn ba chục vạn,
Săn bắn bụi mù hơi.
Cách sông, nhớ lúc ngóng,
Thiếu niên đã gặp sui.
Thời nhỏ chẳng có được,
Bạn cũ cũng mất rồi.
Làm thơ, nước mắt chảy,
Đời loạn mong người tài.
Mua được xương ngựa quý,
Chớ than không Long Môi.
Thương Sơn bàn được, mất,
Chúa Thục tránh tiếng tai.
Phó Duyệt là mắm muối,
Lã Thượng phong đất đai.
Hạc nước âm thầm lại,
Núi Sở cảnh suy đồi.
Bàng công giữ bản tính,
Dẫn con, rêu xanh ngồi.
(Năm 766)

[1] Chỗ gảy đàn ở huyện Đơn Phụ, tỉnh Sơn Đông.
[2] Thuộc huyện Xương Lê, tỉnh Hà Bắc.
[3] Chuyện có một người bỏ tiền mua bộ xương con ngựa nòi, sau các nơi tìm đến để bán ngựa tốt cho ông ta.
[4] Tức Thương Sơn tứ hạo.
[5] Lưu Bị sau khi được Khổng Minh giúp, Trương Phi và Quan Vũ tỏ ý nghi ngờ về mối giao hảo đó. Ở đây nói về việc một trung thần, Lý Bí, đã từng bị Dương Quốc Trung và Lý Phủ Quốc ly gián ông với vua, nhưng cuối cùng Lý Bí được trọng dụng, sau khi Túc Tông dẹp yên được loạn và trở về Trường An.
[6] Người tài giúp các vua Văn Vương, Vũ Vương nhà Chu.
[7] Một bề tôi tốt của vua Cao Tông đời Ân, trước ẩn nơi đồng ruộng, sau được vua mời ra giúp và phong đất.
[8] Chữ lấy từ bài văn ca ngợi của Cao Tông nhà Ân khen Phó Duyệt: muốn nấu nồi canh, ngươi là hành muối.
[9] Quỳ Châu, nơi Đỗ Phủ ở khi viết bài này.
[10] Bàng Đức Công, người Tương Dương cuối đời Đông Hán. Lưu Biểu 劉表 nhiều lần mời ra hợp tác, nhưng ông từ chối về ẩn ở núi Lộc Môn, mang cả nhà vào rừng hái thuốc kiếm sống.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Khiển hoài (Tích giả dữ Cao, Lý)