27/11/2021 22:18Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Ức Long Đội sơn kỳ 2
憶龍隊山其二

Tác giả: Nguyễn Khuyến - 阮勸

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Cận đại
Đăng bởi Vanachi vào 05/04/2006 08:55

 

Nguyên tác

近來衰病不參禪,
回憶前遊亦愴然。
古寺四鄰唯木石,
寒僧一榻共雲煙。
幾層竹影疑無路,
有客桑間立待船。
野老未知鐘響午,
放牛山麓臥松眠。

Phiên âm

Cận lai suy bệnh bất tham thiền[1],
Hồi ức tiền du diệc sảng nhiên.
Cổ tự tứ lân duy mộc thạch,
Hàn tăng nhất tháp cộng vân yên.
Kỷ tằng trúc ảnh nghi vô lộ,
Hữu khách tang gian lập đãi thuyền.
Dã lão vị tri chung hưởng ngọ,
Phóng ngư sơn lộc ngoạ tùng miên.

Dịch nghĩa

Ít lâu nay đau yếu không lên thăm cảnh chùa,
Nhớ lại cuộc chơi trước, lòng cũng bùi ngùi.
Chùa cổ bốn bên chỉ có cây và đá,
Sư nghèo một giường cùng khói với mây.
Mấy tầng bóng tre, tưởng như không có lối đi,
Giữa bãi dâu, khách đứng đợi thuyền.
Ông già quê chưa biết chuông trưa đã đổ,
Thả trâu bên sườn non, nằm ngủ dưới gốc thông.

Bản dịch của Nguyễn Khuyến

Già yếu xa xôi mấy độ nay,
Làng chơi loáng thoáng lại buồn thay.
Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá,
Sư cụ nằm chung với khói mây.
Dặm thế ngõ đâu tầng trúc ấy,
Thuyền ai khách đợi bến đâu đây?
Chuông trưa vẳng tiếng người không biết,
Trâu thả sườn non ngủ gốc cây.
Rút từ Quế Sơn tam nguyên thi tập (A.3160).

Nguồn:
1. Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 1971 (tái bản 1979)
2. Nguyễn Văn Huyền, Nguyễn Khuyến – Tác phẩm, NXB Khoa học xã hội, 1984
3. Nguyễn Huệ Chi, Thi hào Nguyễn Khuyến: đời và thơ, NXB Giáo dục, 1994
4. Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn nghệ, 2005
Bản dịch của chính tác giả, chép trong Quế Sơn thi tập (A.469), Nam âm thảo (VHv.2381).

Nguồn: Thi hào Nguyễn Khuyến: đời và thơ, Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Giáo dục, 1994
[1] Hiểu theo nghĩa thông thường là đến thăm chùa, thăm sư. Trong Phật giáo, tham thiền là phương pháp tu trì của Thiền tông để cầu được minh tâm kiến tính.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Khuyến » Ức Long Đội sơn kỳ 2