02/11/2020 06:28Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Ngụ cư Định Tuệ viện chi đông tạp hoa mãn sơn hữu hải đường
寓居定慧院之東雜花滿山有海棠

Tác giả: Tô Thức - 蘇軾

Thể thơ: Thất ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Bắc Tống, Liêu
Đăng bởi tôn tiền tử vào 11/11/2018 10:38

 

Nguyên tác

江城地瘴蕃草木,
只有名花苦幽獨。
嫣然一笑竹籬間,
桃李滿山總粗俗。
也知造物有深意,
故遣佳人在空穀。
自然富貴出天姿,
不待金盤薦華屋。
朱唇得酒暈生臉,
翠袖卷紗紅映肉。
林深霧暗曉光遲,
日暖風輕春睡足。
雨中有淚亦凄愴,
月下無人更清淑。
先生食飽無一事,
散步逍遙自捫腹。
不問人家與僧捨,
拄杖敲門看修竹。
忽逢絕艷照衰朽,
嘆息無言揩病目。
陋邦何處得此花,
無乃好事移西蜀。
寸根千里不易到,
銜子飛來定鴻鵠。
天涯流落俱可念,
為飲一樽歌此曲。
明朝酒醒還獨來,
雪落紛紛哪忍觸。

Phiên âm

Giang Thành địa chướng phiền thảo mộc,
Chỉ hữu danh hoa khổ u độc.
Yên nhiên nhất tiếu trúc ly gian,
Đào lý mãn sơn tổng thô tục.
Dã tri tạo vật hữu thâm ý,
Cố khiển giai nhân tại không cốc.
Tự nhiên phú quý xuất thiên tư,
Bất đãi kim bàn tiến hoa ốc.
Châu thần đắc tửu vựng sinh kiểm,
Thuý tụ quyển sa hồng ánh nhục.
Lâm thâm vụ ám hiểu quang trì,
Nhật noãn phong khinh xuân thuỵ túc.
Vũ trung hữu lệ diệc thê sảng,
Nguyệt hạ vô nhân canh thanh thục.
Tiên sinh thực bão vô nhất sự,
Tán bộ tiêu dao tự môn phúc.
Bất vấn nhân gia dữ tăng xá,
Trụ trượng xao môn khán tu trúc.
Hốt phùng tuyệt diễm chiếu suy hủ,
Thán tức vô ngôn khai bệnh mục.
Lậu bang hà xứ đắc thử hoa,
Vô nãi hảo sự di Tây Thục.
Thốn căn thiên lý bất dị đáo,
Hàm tử phi lai định hồng hộc.
Thiên nhai lưu lạc câu khả niệm,
Vị ẩm nhất tôn ca thử khúc.
Minh triêu tửu tỉnh hoàn độc lai,
Tuyết lạc phân phân na nhẫn xúc.

Dịch nghĩa

Đất Giang Thành nhiều chướng khí nên nhiều cây cỏ hoang dại,
Chỉ có một loại danh hoa, cây hải đường, mọc chen lấn giữa đó, nằm lẻ loi buồn tẻ.
Một khi nó nhởn nhơ hé nụ nơi hàng dậu,
Thì tất cả đào, lý khắp một vùng núi này thảy là thô tục.
Thế nên mới biết tạo vật có thâm ý,
Nên khiến cho loài hoa quý đó lánh mình nơi hang hốc vắng vẻ.
Cái cốt cách cao sang của nó vốn là trời cho tự nhiên vậy,
Không phải đợi có mâm vàng dâng vào cửa nhà sang cả mới thành quý.
Nụ hồng tươi như say men rượu ửng lên đôi má,
Tàn lá như cánh tay áo màu xanh thẳm vén lên giải lụa để lộ thịt da ánh hồng.
Sa mù phủ mờ cả khu rừng dày chằng chịt nên nắng mai lên trễ,
Mặt trời ấm, gió nhẹ, giấc ngủ mùa xuân rất thoải mái.
Lúc mưa, trong cơn mưa những giọt nước đọng long lanh trông cũng khá sầu muộn,
Lúc có trăng, dưới trăng vắng bóng người, trông lại càng yểu điệu cao sang.
Tiên sinh ăn một bữa no, không một việc làm,
Ông thả bước tiêu dao, tự sờ tay vào bụng của mình.
Không cần hỏi đó là nhà của người tục hay của sư tăng,
Chống gậy đến gõ cửa xem hàng tre đứng thẳng.
Bỗng gặp một vẻ tuyệt diễm bừng lên giữa hàng giậu đổ nát,
Ông than thở không nói một lời, nhướng con mắt mờ kém lên:
Đất quê này sao lại có thứ hoa này?
Há không phải do người hiếu sự mang nó từ đất Tây Thục đến?
Nhưng tấc rễ ngắn của nó không dễ gì mang đi xa xôi như vậy nổi,
Có lẽ chim hồng hay chim hộc ngậm hạt của nó mang đến đây.
Cũng đáng ngậm ngùi cho nó lưu lạc tận ven trời xa xôi này,
Nên vì thay nó mà uống một chén và ca một khúc ca đó.
Sáng hôm sau, tỉnh rượu lại, đến đây một mình,
Thấy tuyết bay phơi phới, tưởng chừng như không nỡ đụng đến nó.

Bản dịch của Koko

Giang Thành đất dữ nhiều hoa dại
Cớ sao hoa quý lại ở đây
Nhởn nhơ hé nụ nơi hàng dậu
Đào lý núi kia phải chau mày
Tạo hoá quả nhiên đầy thâm ý
Đã khiến giai nhân ở chốn này
Phú quý thiên tư đà định sẵn
Đâu phải mâm vàng mới thanh cao
Má ửng cánh hồng say men rượu
Áo xanh vén nhẹ lộ cánh tay
Rừng thẳm mù sa nên ngủ trễ
Giấc mộng đêm xuân có vẻ say
Mưa đọng sương giăng thêm yểu điệu
Người vắng trăng trong càng thanh tao
Tiên sinh ăn no không việc bận
Xoa bụng thong thả bước tiêu dao
Chẳng phải bận tâm tăng hay tục
Chống gậy gõ cửa ngắm trúc nào
Thốt nhiên chiêm ngưỡng được hoa quý
Mắt mờ than thở chút bi ai
Đất quê sao có hoa như thế
Chắc từ Tây Thục lạc về đây
Nhưng hoa thể nhược mang sao nổi
Chắc là hồng hộc ngậm hạt cây
Tội cho thiên quý mà lưu lạc
Nâng chén vì hoa, ca một bài
Sáng hôm tỉnh rượu lần chân bước
Gặp hoa, thấy tuyết cũng nhẹ bay
Hoàng Châu, năm Nguyên Phong thứ 3 (1080) đời Tống Thần Tông

Khi cư ngụ tại chùa Định Tuệ, phía đông chùa có hoa tạp đầy núi, giữa đó chen một cây hải đường. Thổ nhân không biết là quý. Nhân đó, làm bài thơ vịnh hải đường. Thơ ngụ ẩn tình, cốt cách trang nhã của hải đường gây nên nơi ông một cảm hứng tuyệt diệu. Lối thơ này, thường dễ trở thành một đề tài sáo, giả tạo và khoa trương. Kiểu cách của nó là sao cho đạt đến mức nói riêng vật mà tình ẩn, nói tiêng tình mà vật hiện. Nhưng còn phải đợi bàn tay tài hoa phổ vào mới thành tuyệt diệu. Vật trở thành cao quý trong tình ẩn, và người cũng trở thành tao nhã nơi vật hiện. Cái đó là do phong tư tú lệ của tao nhân, tay phàm tục khó mà vươn tới mức. Nó hệ ở chỗ tương ứng của thanh khí lẽ hằng. Cho nên, tiết nhịp của bài thơ không cần sôi nổi lãng mạn mà nguồn cảm hứng rung động sâu xa như là bất tận. Chỗ đó, Kỷ Hiểu Lam phê rằng: “Hoàn toàn nói về hải đường, nhưng tự ngụ ý phong tư tú lệ của mình. Bắt đầu hứng khởi thì thâm trầm vi nhiệm. Nửa chừng thì nở rộ tươi sáng. Lối thơ đó nếu không thực sự là Đông Pha thì không ai làm nổi. Đông Pha nếu không hứng khởi trong một lúc, vị tất đã làm nổi.”

Bản dịch nghĩa trong Tô Đông Pha những phương trời viễn mộng (Tuệ Sỹ, NXB Ca Dao, 1973).

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Tô Thức » Ngụ cư Định Tuệ viện chi đông tạp hoa mãn sơn hữu hải đường