19/01/2021 17:25Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Bạch Đằng giang phú
白藤江賦

Tác giả: Trương Hán Siêu - 張漢超

Thể thơ: Phú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Trần
Đăng bởi Vanachi vào 31/05/2004 19:28

 

Nguyên tác

客有:
掛汗漫之風帆,
拾浩蕩之海月。
朝嘎舷兮沅湘,
暮幽探兮禹穴。
九江五湖,
三吳百粵。
人跡所至,
靡不經閱。
胸吞雲夢者數百而,
四方壯志猶闕如也。
乃舉楫兮中流,
縱子長之遠遊。
涉大灘口,
溯東潮頭。
抵白藤江,
是泛是浮。
接鯨波於無際,
蘸繇尾之相繆。
水天一色,
風景三秋。
渚获岸蘆,
瑟瑟颼颼。
折戟沉江,
枯骨盈丘。
慘然不樂,
佇立凝眸。
念豪傑之已往,
嘆蹤跡之空留。
江邊父老,
謂我何求。
或扶黎杖,
或棹孤舟。
揖余而言曰:
此重興二聖擒烏馬兒之戰地,
與昔時吳氏破劉弘操之故洲也。
當期:
舳艫千里,
旌旗旖旎。
貔貅六軍,
兵刃蜂起。
雌雄未決,
南北對壘。
日月昏兮無光,
天地凜兮將毀。
彼:
必烈之勢強,
劉龔之計詭。
自謂投鞭,
可掃南紀。
既而:
皇天助順,
凶徒披靡。
孟德赤壁之師談笑飛灰,
符堅合淝之陣須臾送死。
至今江流,
終不雪恥。
再造之功,
千古稱美。
雖然:
自有宇宙,
故有江山。
信天塹之設險,
賴人傑以奠安。
孟津之會鷹揚箬呂,
濰水之戰國士如韓。
惟此江之大捷,
猶大王之賊閒。
英風可想,
口碑不刊。
懷古人兮隕涕,
臨江流兮厚顏。
行且歌曰:
大江兮滾滾,
洪濤巨浪兮朝宗無盡。
仁人兮聞名,
匪人兮俱泯。
客從而賡歌曰:
二聖兮並明,
就此江兮洗甲兵。
胡塵不敢動兮,千古昇平。
信知:不在關河之險兮,
惟在懿德之莫京。

Phiên âm

Khách hữu:
Quải hạn mạn chi phong phàm,
Thập hạo đãng chi hải nguyệt.
Triêu dát huyền hề Nguyên, Tương[1],
Mộ u thám hề Vũ huyệt[2].
Cửu Giang[3], Ngũ Hồ[4],
Tam Ngô[5], Bách Việt[6].
Nhân tích sở chí,
Mị bất kinh duyệt.
Hung thôn Vân Mộng[7] giả sổ bách nhi,
Tứ phương tráng chí do khuyết như dã.
Nãi cử tiếp hề trung lưu,
Túng Tử Trường[8] chi viễn du.
Thiệp Đại Than[9] khẩu,
Tố Đông Triều[10] đầu.
Để Bạch Đằng giang,
Thị phiếm thị phù.
Tiếp kình ba ư vô tế,
Trám diêu vĩ chi tương mâu.
Thuỷ thiên nhất sắc,
Phong cảnh tam thu.
Chử địch ngạn lô,
Sắt sắt sâu sâu.
Chiết kích trầm giang,
Khô cốt doanh khâu.
Thảm nhiên bất lạc,
Trữ lập ngưng mâu.
Niệm hào kiệt chi dĩ vãng,
Thán tung tích chi không lưu.
Giang biên phụ lão,
Vị ngã hà cầu.
Hoặc phù lê trượng,
Hoặc trạo cô châu.
Ấp dư nhi ngôn viết:
“Thử Trùng Hưng[11] nhị thánh[12] cầm Ô Mã Nhi[13] chi chiến địa,
Dữ tích thời Ngô thị[14] phá Lưu Hoằng Thao[15] chi cố châu dã.”
Đương kỳ:
Trục lô thiên lý,
Tinh kỳ ỷ nỉ.
Tỳ hưu lục quân,
Binh nhẫn phong khỉ.
Thư hùng vị quyết,
Nam Bắc đối luỹ.
Nhật nguyệt hôn hề vô quang,
Thiên địa lẫm hề tương huỷ.
Bỉ:
Tất Liệt[16] chi thế cường,
Lưu Cung[17] chi kế quỷ.
Tự vị đầu tiên[18],
Khả tảo Nam kỷ.
Ký nhi:
Hoàng thiên trợ thuận,
Hung đồ phi mỵ.
Mạnh Đức Xích Bích[19] chi sư đàm tiếu phi hôi,
Bồ Kiên Hợp Phì[20] chi trận tu du tống tử.
Chí kim giang lưu,
Chung bất tuyết sỉ.
Tái bạo chi công,
Thiên cổ xưng mỹ.
Tuy nhiên:
Tự hữu vũ trụ,
Cố hữu giang san.
Tín thiên tạm chi thiết hiểm,
Lại nhân kiệt dĩ điện an.
Mạnh Tân[21] chi hội ưng dương nhược Lã,
Duy Thuỷ[22] chi chiến quốc sĩ như Hàn.
Duy thử giang chi đại tiệp,
Do đại vương chi tặc nhàn.
Anh phong khả tưởng,
Khẩu bi bất san.
Hoài cổ nhân hề vẫn thế,
Lâm giang lưu hề hậu nhan.
Hành thả ca viết:
“Đại giang hề cổn cổn,
Hồng đào cự lãng hề triều tông vô tận.
Nhân nhân hề văn danh,
Phỉ nhân hề câu dẫn.”
Khách tòng nhi canh ca viết:
“Nhị thánh hề tịnh minh,
Tựu thử giang hề tẩy giáp binh.
Hồ trần bất cảm động hề, thiên cổ thăng bình.
Tín tri: bất tại quan hà chi hiểm hề,
Duy tại ý đức chi mạc kinh.”

Bản dịch của Đông Châu, Bùi Văn Nguyên

Khách có kẻ:
Giương buồm giong gió chơi vơi,
Lướt bể chơi trăng mải miết.
Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương,
Chiều lần thăm chừ Vũ huyệt.
Cửu Giang, Ngũ Hồ,
Tam Ngô, Bách Việt.
Nơi có người đi,
Đâu mà chẳng biết.
Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều,
Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết.
Bèn giữa dòng chừ buông chèo,
Học Tử Trường chừ thú tiêu dao.
Qua cửa Đại Than,
Ngược bến Đông Triều,
Đến sông Bạch Đằng,
Thuyền bơi một chiều.
Bát ngát sóng kình muôn dặm,
Thướt tha đuôi trĩ một màu.
Nước trời một sắc,
Phong cảnh ba thu.
Bờ lau san sát,
Bến lách đìu hiu
Sông chìm giáo gãy,
Gò đầy xương khô.
Buồn vì cảnh thảm,
Đứng lặng giờ lâu.
Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá,
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu.
Bên sông bô lão hỏi,
Hỏi ý ta sở cầu.
Có kẻ gậy lê chống trước,
Có người thuyền nhẹ bơi sau.
Vái ta mà thưa rằng:
“Đây là chiến địa buổi trùng hưng nhị thánh bắt Ô Mã,
Cũng là bãi đất xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao.”
Đương khi ấy:
Thuyền tàu muôn đội,
Tinh kì phấp phới.
Hùng hổ sáu quân,
Giáo gươm sáng chói.
Trận đánh được thua chửa phân,
Chiến luỹ bắc nam chống đối.
Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ,
Bầu trời đất chừ sắp đổi.
Kìa:
Tất Liệt thế cường,
Lưu Cung chước dối.
Những tưởng gieo roi một lần,
Quét sạch Nam bang bốn cõi.
Thế nhưng:
Trời cũng chiều người,
Hung đồ hết lối
Trận Xích Bích, quân Tào Tháo tan tác tro bay,
Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi.
Đến nay sông nước tuy chảy hoài,
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi.
Tái tạo công lao,
Nghìn xưa ca ngợi.
Tuy nhiên:
Từ có vũ trụ,
Đã có giang san.
Quả là: trời đất cho nơi hiểm trở,
Cũng nhờ: nhân tài giữ cuộc điện an!
Hội nào bằng hội Mạnh Tân, có vương sư họ Lã,
Trận nào bằng trận Duy Thuỷ, có quốc sĩ họ Hàn.
Khi trận Bạch Đằng mà đại thắng,
Bởi đại vương coi thế giặc nhàn.
Tiếng thơm còn mãi,
Bia miệng không mòn.
Đến chơi sông chừ ủ mặt,
Nhớ người xưa chừ lệ chan.
Rồi vừa đi vừa ca rằng:
“Sông Đằng một dải dài ghê,
Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông.
Những người bất nghĩa tiêu vong,
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh!”
Khách cũng nối tiếp mà ca rằng:
“Anh minh hai vị thánh quân,
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh.
Giặc tan muôn thuở thanh bình,
Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao.”
Lời dẫn của tác giả:
Cuối đời nhà Đường trong thời Ngũ Đại, Lưu Cung tiếm ngôi, xưa quốc hiệu là Hán. Giữa lúc Nam Bắc phân tranh, nước ta chưa có thông thuộc, Dương Đình Nghệ cầm quyền cai trị trong châu, bị kẻ con nuôi là Kiều Công Tiễn giết để lên thay chân. Tướng của Đình Nghệ là Ngô Quyền dấy binh đánh Công Tiễn. Tiễn cầu cứu với Lưu Cung, Cung bèn sai con là Hoằng Thao đem quân sang cứu. Thao đem chiến thuyền từ sông Bạch Đằng kéo vào. Lúc ấy Quyền đã giết được Công Tiễn, và đã ngầm cắm những cây gỗ nhọn ở hai bên cửa bể, rồi dụ Hoằng Thao vào bên trong, đến khi nước thuỷ triều rút lui, ông mới tung quân ra đánh, giết được Hoằng Thao.

Đời vua Nhân Tông nhà Trần, niên hiệu Trùng Hưng năm thứ 4 (1288), vua Thế Tổ nhà Nguyên sai Ô Mã Nhi sang xâm lược, kéo binh vào sông Bạch Đằng. Hưng Đạo Vương là Trần Quốc Tuấn cũng trồng cột nhọn ở lòng sông từ trước, rồi chờ lúc thuỷ triều lên thì ra khiêu chiến rồi giả cách thua chạy, đến lúc thuỷ triều xuống mới tung ra đánh, phá vỡ được quân địch, bắt sống được Ô Mã Nhi. Trận này vua Nhân Tông và thái thượng hoàng là Thánh Tông cùng ra cầm quân.

Nguồn: Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (tập II), NXB Văn học, 1976
[1] Sông Nguyên, sông Tương ở tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc.
[2] Phần mộ của vua Vũ, tương truyền ở núi Cối Kê, thuộc tỉnh Chiết Giang.
[3] Có nhiều cách hiểu: (1) Tên một quận có từ thời Tần, nằm giữa đạo Hoài Tử và tỉnh Chiết Giang; (2) Tên một con sông có chín nhánh hợp lại; (3) Tên khác của hồ Động Đình.
[4] Có hai cách hiểu: (1) Biệt danh của Thái Hồ; (2) Một trong hai khu vực năm hồ, một lấy hồ Động Đình, một lấy Thái Hồ làm trung tâm.
[5] Tên đất của cũ của nước Ngô, gồm ba vùng.
[6] Tên chung các bộ tộc sinh sống ở phía nam sông Dương Tử.
[7] Đầm thuộc tỉnh Hồ Bắc. Tư Mã Tương Như có câu “Nuốt những tám chín cái đầm Vân Mộng vào trong bụng”, ý nói chí lớn.
[8] Tự của sử gia Tư Mã Thiên, người từng chu du nhiều nơi thắng cảnh và di tích.
[9] Tên cửa biển thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay.
[10] Tên đất thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay.
[11] Niên hiệu của vua Trần Nhân Tông.
[12] Chỉ Trần Thánh Tông (thái thượng hoàng) và Trần Nhân Tông (vua) - đã lánh đạo kháng chiến chống Nguyên Mông.
[13] Tướng giặc Nguyên Mông bị bắt sống ở trận Bạch Đằng năm 1288.
[14] Ngô Quyền.
[15] Con Lưu Cung vua Nam Hán, bị giết ở sông Bạch Đằng năm 938.
[16] Hốt Tất Liệt, tức Nguyên Thế Tổ, người lập ra nhà Nguyên ở Trung Quốc sau khi Mông Cổ đánh bại nhà Tống.
[17] Lưu Cung lập chước lừa dối và nhận vàng bạc của tên Việt gian Kiều Công Tiễn, vừa đem quân sang nói giúp Tiễn nhưng thực ra là xâm lược nước ta.
[18] Bồ Kiên người nước Tần khi vào đánh nước Tấn có nói: “Cứ như số quân ta thì chỉ ném roi ngựa xuống sông cũng đủ chặn đứng dòng sông”.
[19] Dãy núi bên bờ sông Dương Tử. Thời Tam Quốc, Chu Du dùng kế hoả công của Gia Cát Lượng tiêu diệt 82 vạn quân của Tào Tháo tại đây. Tô Đông Pha có 2 bài phú Tiền Xích BíchHậu Xích Bích rất nổi tiếng về địa danh này.
[20] Tên một huyện ở tỉnh An Huy, Trung Quốc, nơi sông Hoài hợp với sông Phì. Tạ Huyền đời Tấn đánh bại một trăm vạn quân của Bồ Kiên nước Tần tại đây.
[21] Thời Ân, vua Trụ tàn ác, Võ Vương hội họp các nước chư hầu tại bến Mạnh Tân và giao cho Lã Vọng (tức Khương Tử Nha, hay Thái Công Vọng) cầm quân để chống lại.
[22] Hàn Tín giúp Lưu Bang đánh thắng Lý Tử Xa nước Tề trên sông Duy Thuỷ thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Trương Hán Siêu » Bạch Đằng giang phú