02/12/2020 20:36Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Khốc Trường Tôn thị ngự
哭長孫侍禦

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn bát cú; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 07/06/2015 05:56

 

Nguyên tác

道為諫書重,
名因賦頌雄。
禮闈曾擢桂,
憲府舊乘驄。
流水生涯盡,
浮雲世事空。
唯餘舊臺柏,
蕭瑟九原中。

Phiên âm

Đạo vi gián thư trọng,
Danh nhân phú tụng hùng.
Lễ vi tằng trạc quế[1],
Hiến phủ[2] cận thừa thông[3].
Lưu thuỷ sinh nhai tận,
Phù vân thế sự không.
Duy dư cựu đài bách,
Tiêu sắt cửu nguyên trung.

Dịch nghĩa

Quan hệ vua tôi khiến cho sớ khuyên can có trọng lượng,
Tên tuổi người ta làm cho văn chương thêm hùng.
Nơi khảo thí của bộ Lễ ông đã từng bẻ quế.
Khi làm việc ở hiến phủ ông đã cưỡi ngựa thông.
Cuộc sống thì chấm dứt nhưng nước kia cứ vẫn trôi,
Việc đời vốn trống không như đám mây trôi.
Chỉ còn lại cây thông bên cơ quan cũ,
Người dưới chín suối thấy buồn thiu.

Bản dịch của Phạm Doanh

Nghĩa khiến sớ can nặng,
Nhờ tên văn chương hùng.
Bộ lễ từng bẻ quế,
Ngự sử cuỡi ngựa thông.
Nước chảy, cuộc sống hết,
Mây trôi, đời rỗng không.
Chỉ còn thông đài cũ,
Chín suối những đau lòng.
(Năm 757)

Có sách ghi tác giả bài này là Đỗ Tụng 杜誦.

[1] Chỉ việc thi đỗ.
[2] Tức là ngự sử đài, nơi làm việc của các quan ngự sử. Đời Hán gọi là ngự sử phủ, cũng gọi là hiến đài.
[3] Theo Hậu Hán thư, Hoàn Điển 桓典 là cháu của Hoàn Vinh 桓榮, giữ chức thị ngự sử. Lúc đó hoạn quan lộng quyền, Điển thường theo luật không kiêng nể ai, thường cưỡi ngựa thông, cả kinh sư e sợ. Vì thế có câu nói: "Hành hành thả chỉ, Tị thông mã ngự sử" 行行且止,避驄馬御史 (Cứng cỏi thế đó, tránh xa ngựa thông ông ngự sử). Sau dùng chỉ quan thị ngự sử.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Khốc Trường Tôn thị ngự