25/11/2020 00:09Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Tiêu Trọng Khanh thê - Đệ tam đoạn
焦仲卿妻-第三段

Tác giả: Khuyết danh Trung Quốc

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Hán
Đăng bởi Vanachi vào 17/11/2008 08:23

 

Nguyên tác

入門上家堂,
進退無顏儀。
阿母大拊掌:
「不圖子自歸!
十三教汝織,
十四能裁衣,
十五彈箜筷,
十六知禮儀,
十七遣汝嫁,
謂言無誓違。
汝今無罪過,
不迎而自歸?」
蘭芝慚阿母:
「兒實無罪過。」
阿母大悲摧。

還家十餘日,
縣令遣媒來。
云「有第三郎,
窈窕世無雙。
年始十八九,
便言多令才。」
阿母謂阿女:
「汝可去應之。」
阿女銜淚答:
「蘭芝初還時,
府吏見丁寧,
結誓不別離。
今日違情義,
恐此事非奇。
自可斷來信,
徐徐更謂之。」
阿母白媒人:
「貧賤有此女,
始適還家門。
不堪吏人婦,
豈合令郎君?
幸可廣問訊,
不得便相許。」

媒人去數日,
尋遣丞請還,
說「有蘭家女,
承籍有宦官。」
云「有第五郎,
嬌逸未有婚,
遣丞為媒人。
主簿通語言。」
直說「太守家,
有此令郎君。
既欲結大義,
故遣來貴門。」
阿母謝媒人:
「女子先有誓,
老姥豈敢言?」
阿兄得聞之,
悵然心中煩。
舉言謂阿妹:
「作計何不量!
先嫁得府吏,
後嫁得郎君。
否泰如天地,
足以榮汝身。
不嫁義郎體,
其往欲何云?」
蘭芝仰頭答:
「理實如兄言。
謝家事夫婿,
中道還兄門。
處分適兄意,
那得自任專?
雖與府吏要,
渠會永無緣!
登即相許和,
便可作婚姻。」

媒人下床去,
諾諾復爾爾。
還部白府君:
「下官奉使命,
言談大有緣。」
府君得聞之,
心中大歡喜。
視厤復開書,
便利此月內:
「六合正相應,
良吉三十日。
今已二十七,
卿可去成婚。」
交語速裝束,
絡繹如浮雲。
青雀白鵠舫,
四角龍子幡。
婀娜隨風轉,
金車玉作輪。
躑躅青驄馬,
流蘇金鏤鞍。
齎錢三百萬,
皆用青絲穿。
雜綵三百匹,
交廣市鮭珍。
從人四五百,
鬱鬱登郡門。

Phiên âm

Nhập môn thượng gia đường,
Tiến thoái vô nhan nghi[1].
A mẫu đại phụ chưởng:
“Bất đồ tử tự quy!
Thập tam giáo nhữ chức,
Thập tứ năng tài y,
Thập ngũ đàn không khoái,
Thập lục tri lễ nghi,
Thập thất khiển nhữ giá,
Vị ngôn vô thệ vi.
Nhữ kim vô tội quá,
Bất nghênh nhi tự quy?”
Lan Chi[2] tàm a mẫu:
“Nhi thực vô tội quá.”
A mẫu đại bi tồi.

Hoàn gia thập dư nhật,
Huyện lệnh khiển môi lai.
Vân “Hữu đệ tam lang,
Yểu điệu[3] thế vô song.
Niên thuỷ thập bát cửu,
Tiện ngôn đa linh tài.”
A mẫu vị a nữ:
“Nhữ khả khứ ứng chi.”
A nữ hàm lệ đáp:
“Lan Chi sơ hoàn thì,
Phủ lại kiến đinh ninh[4],
Kết thệ bất biệt ly.
Kim nhật vi tình nghĩa,
Khủng thử sự phi kỳ.
Tự khả đoạn lai tín,
Từ từ cánh vị chi.”
A mẫu bạch môi nhân:
“Bần tiện hữu thử nữ,
Thuỷ thích hoàn gia môn.
Bất kham lại nhân phụ,
Khởi hợp lệnh lang quân?
Hạnh khả quảng vấn tấn,
Bất đắc tiện tương hứa.”

Môi nhân khứ sổ nhật,
Tầm[5] khiển Thừa[6] thỉnh hoàn,
Thuyết “Hữu Lan gia[7] nữ,
Thừa tịch hữu hoạn quan.”[8]
Vân “Hữu đệ ngũ lang,
Kiều dật vị hữu hôn.
Khiển Thừa vi môi nhân,
Chủ bạ[9] thông ngữ ngôn.”
Trực thuyết[10] “Thái thú gia,
Hữu thử lệnh lang quân.
Ký dục kết đại nghĩa,
Cố khiển lai quý môn.”
A mẫu tạ môi nhân:
“Nữ tử tiên hữu thệ,
Lão mụ khởi cảm ngôn?”
A huynh đắc văn chi,
Trướng nhiên[11] tâm trung phiền.
Cử ngôn vị a muội:
“Tác kế[12] hà bất lường!
Tiên giá đắc phủ lại,
Hậu giá đắc lang quân.
Bĩ thái như thiên địa,
Túc dĩ vinh nhữ thân.
Bất giá nghĩa lang thể,
Kỳ vãng dục hà vân?”
Lan Chi ngưỡng đầu đáp:
“Lý thực như huynh ngôn.
Tạ gia sự phu tế,
Trung đạo hoàn huynh môn.[13]
Xử phân thích huynh ý,
Na đắc tự nhiệm chuyên?
Tuy dữ phủ lại yếu[14],
Cừ[15] hội vĩnh vô duyên!
Đăng tức[16] tương hứa hoà,
Tiện khả tác hôn nhân.”

Môi nhân hạ sàng khứ,
Nặc nặc phục nhĩ nhĩ[17].
Hoàn bộ[18] bạch phủ quân[19]:
“Hạ quan phụng sứ mệnh,
Ngôn đàm đại hữu duyên.”
Phủ quân đắc văn chi,
Tâm trung đại hoan hỉ.
Thị lịch phục khai thư[20],
Tiện lợi thử nguyệt nội:
“Lục hợp[21] chính tương ứng,
Lương cát tam thập nhật.
Kim dĩ nhị thập thất,
Khanh khả khứ thành hôn.”
Giao ngữ tốc trang thúc,
Lạc dịch[22] như phù vân.
Thanh tước bạch hộc phảng[23],
Tứ giác long tử phiên[24].
A na[25] tuỳ phong chuyển,
Kim xa ngọc tác luân.
Trịch trục thanh thông mã[26],
Lưu tô[27] kim lũ yên.
Tê tiền[28] tam bách vạn,
Giai dụng thanh ty xuyên.
Tạp thái[29] tam bách thất,
Giao quảng thị khuê trân[30].
Tòng nhân tứ ngũ bách,
Uất uất[31] đăng quận môn[32].

Bản dịch của Điệp luyến hoa

Qua cửa, tiến vào nhà,
Đi đứng luống ngẩn ngơ.
Mẹ vỗ tay lớn hỏi:
“Không ngờ con tự về!
Mười ba dạy dệt vải,
Mười bốn học cắt may.
Mười lăm đàn không hầu,
Mười sáu biết lễ nghi.
Mười bảy đem đi gả,
Dặn chớ làm gì sai.
Nay nếu không có tội,
Chẳng đón sao về đây?”
Lan Chi xấu hổ đáp:
“Con thực là vô tội.”
Mẹ nghe xót lắm thay.

Về nhà mươi ngày lẻ,
Huyện lệnh cho mối qua.
Nói “Nhà có cậu ba,
Khôi ngô không đâu sánh.
Tuổi mới mười tám, chín,
Nhiều tài, giỏi nói năng.”
Mẹ bèn hỏi con gái:
“Con thấy có ưng chăng?”
Con gái rưng lệ đáp:
“Lan Chi lúc mới về,
Phủ lại đinh ninh dặn,
Mãi mãi chẳng phân ly.
Nay phụ tình nghĩa ấy,
Thực nào có tốt chi.
Bây giờ xin từ chối,
Thư thả đến mai kia.”
Mẹ đáp người đưa mối:
“Con gái kẻ nghèo này,
Mới bị đuổi về đây.
Đã không kham phủ lại,
Nào hợp với lang quân?
May mắn được thăm hỏi,
Nhưng chẳng dám kết thân.”

Mối đi vừa mấy buổi,
Huyện thừa được lệnh về.
Nói “Con gái họ Lan,
Dòng dõi có hoạn quan.”
Lại “Nhà có cậu năm,
Tuấn tú chưa lấy ai.
Sai ta làm mai mối,
Chủ bạ đã truyền lời.”
Nói thẳng “Nhà Thái thú,
Có chàng công tử này.
Mong được kết nghĩa lớn,
Nên sai tôi tới đây.”
Người mẹ đáp quan mối:
“Con gái đã thề thốt,
Mẹ già biết nói sao?”
Huynh trưởng vừa nghe được,
Lòng cáu giận buồn rầu.
Mở lời cùng em gái:
“Quyết vậy chớ tính lâu!
Trước gả cho phủ lại,
Sau gả cho lang quân.
Rủi may như trời đất,
Vinh hoa sướng một thân.
Không gả cho chàng đó,
Sau này muốn được chăng?”
Lan Chi ngẩng đầu đáp:
“Lý thực như lời anh!
Đã gả cho nhà khác,
Quay trở lại giữa đường.
Quyết định tuỳ anh vậy,
Nào dám tự liệu lường?
Cùng phủ lại hẹn ước,
Nay còn gặp được chăng!
Hãy đáp ngay người mối,
Có thể làm hôn nhân.”

Quan mối từ sập xuống,
Dạ dạ lại vâng vâng.
Về phủ tâu Thái thú:
“Hạ quan phụng sứ mệnh,
Kết được mối tơ hồng.”
Thái thú vừa nghe được,
Lòng hết đỗi vui mừng.
Mở lịch xem ngày tốt,
Tiện nhất trong tháng này:
“Lục hợp cùng tương ứng,
Ba mươi đại cát đây.
Nay đã là hăm bảy,
Ngươi chuẩn bị vừa hay.”
Truyền ngay sắm lễ lạt,
La liệt xếp như mây.
Thuyền sẻ xanh, hộc trắng,
Cờ bốn góc rồng bay.
Phấp phới theo gió lộng,
Xe vàng bánh ngọc quay.
Ngựa trắng xanh đủng đỉnh,
Yên rủ óng tua dài.
Tiền lộc ba trăm vạn,
Tơ xanh nối liền dây.
Lụa màu ba trăm tấm,
Thức quý sắm cho đầy.
Bốn năm trăm người nối,
Ra cửa một hàng dài.
Đoạn 3 kể từ khi Lan Chi về nhà đến khi bị anh mình ép gả cho nhà quan Thái thú.

[1] Vẻ mặt thất sắc, ngẩn ngơ.
[2] Tức vợ Trọng Khanh. Tự viết nàng họ Lưu.
[3] Ý nói dung mạo đẹp đẽ khôi ngô.
[4] Như chữ 叮嚀, dặn dò cho nhớ.
[5] Ít lâu.
[6] Chức quan Huyện thừa, tức phó huyện. Câu này ý nói Huyện thừa theo lệnh của quan Thái thú gọi lên và trở về.
[7] Chỉ nhà Lan Chi, đúng ra phải là Lưu gia 劉家.
[8] Hai câu này và bốn câu tiếp theo là lời của Huyện thừa truyền lại lời của quan Thái thú với Huyện lệnh.
[9] Tên chức quan. Câu này ý nói những lời quan Huyện thừa đang nói với Huyện lệnh là do quan Thái thú sai quan Chủ bạ tới truyền lời với Huyện thừa.
[10] Tức quan Huyện thừa đến nhà Lan Chi làm mai mối và nói thẳng.
[11] Cáu giận.
[12] Quyết định.
[13] Hai câu ý nói xưa đã giả cho nhà Trọng Khanh nhưng giữa đường lại trở về nhà.
[14] Thông với ước 約, hẹn ước.
[15] Chỉ Trọng Khanh. Câu này ý nói cơ hội gặp lại Trọng Khanh chắc không còn.
[16] Lập tức.
[17] Nặc nặc, nhĩ nhĩ: những lời vâng vâng dạ dạ.
[18] Chỉ phủ nha.
[19] Chỉ Thái thú.
[20] Thị lịch, khai thư: tức khai thị lịch thư, mở xem sách lịch chọn ngày tốt, ở đây dùng lối hỗ văn.
[21] Cổ nhân khi làm lễ cưới thường cho ngày lục hợp là đại cát. Lục hợp là Tý-Sửu, Dần-Hợi, Mão-Tuất, Thìn-Dậu, Tị-Thân, Ngọ-Mùi.
[22] Liên tục không dứt. Câu này ý nói đố sính lễ nhiều xếp la liệt không ngớt như mây nổi dài liên miên.
[23] Thuyền có vẽ hình chim sẻ xanh và chim hộc trắng, xưa quý nhân mới dùng.
[24] Cờ có thêu hình rồng.
[25] Bay phấp phới (chỉ cờ hình rồng bay).
[26] Ngựa có màu trắng xanh xen lẫn.
[27] Dải dây ngũ sắc tết bằng lông chim treo rủ xuống.
[28] Tiền phát lộc trong hôn lễ.
[29] Lụa nhiều màu khác nhau.
[30] Thị: mua sắm; giao quảng có hai cách giải thích. Có thuyết nói là Giao châu và Quảng châu, câu này ý nói mua các trân hào hải vị khắp vùng Giao châu và Quảng châu. Tuy nhiên, Quảng châu dưới nước Ngô đời Tam Quốc mới xuất hiện, năm Kiến An chưa có tên này, vì vậy câu này nghi là do người đời sau sửa đổi hoặc thêm vào. Thuyết khác giải thích giao do chữ 教, quảng có nghĩa là rộng khắp, có thể hiểu câu này là sai người đi mua trân hào hải vị khắp các nơi. Ở đây tạm hiểu theo cách sau.
[31] Nhiều.
[32] Chỉ cửa chính ra vào nhà quan Thái thú.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Khuyết danh Trung Quốc » Tiêu Trọng Khanh thê - Đệ tam đoạn