06/12/2022 02:35Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Hữu hoài Thai châu Trịnh thập bát tư hộ Kiền
有懷臺州鄭十八司戶虔

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 27/01/2009 04:08

 

Nguyên tác

天台隔三江,
風浪無晨暮。
鄭公縱得歸,
老病不識路。
昔如水上鷗,
今如罝中兔。
性命由他人,
悲辛但狂顧。
山鬼獨一腳,
蝮蛇長如樹。
呼號傍孤城,
歲月誰與度?
從來御魑魅。
多為才名誤。
夫子嵇阮流,
更被時俗惡。
海隅微小吏,
眼暗發垂素。
黃帽映青袍,
非供折腰具。
平生一杯酒,
見我故人遇。
相望無所成,
乾坤莽回互。

Phiên âm

Thiên Thai[1] cách tam giang[2],
Phong lãng vô thần mộ.
Trịnh công túng đắc quy,
Lão bệnh bất thức lộ.
Tích như thuỷ thượng âu,
Kim như ta trung thố.
Tính mệnh do tha nhân,
Bi tân đãn cuồng cố.
Sơn quỷ độc nhất cước,
Phúc xà trường như thụ.
Hô hào bàng cô thành,
Tuế nguyệt thuỳ dữ độ?
Tòng lai ngự si mị.
Đa vị tài danh ngộ.
Phu tử Kê, Nguyễn[3] lưu,
Cánh bị thì tục ác.
Hải ngung vi tiểu lại,
Nhãn ám phát thuỳ tố.
Hoàng mạo ánh thanh bào,
Phi cung chiết yêu cụ.
Bình sinh nhất bôi tửu,
Kiến ngã cố nhân ngộ.
Tương vọng vô sở thành,
Càn khôn mãng hồi hỗ.

Dịch nghĩa

Thiên Thai cách đây ba con sông,
Sóng gió chẳng kể gì sớm tối.
Ông Trịnh Kiền nếu mà có được trở về,
Thì thân già, bệnh cũng chẳng kiếm ra đường mà về nữa.
Trước kia ông như chim âu trên mặt nước,
Nay là con thỏ trong lưới.
Tính mệnh ông nằm trong tay người ta,
Buồn rầu nên đi lang thang.
Nơi ông ở, đầy quỷ núi có một cẳng,
Rắn độc dài như cây.
Kêu than bên thành cô quạnh,
Năm tháng không biết sống cùng ai?
Theo đó chống lại bọn quỷ,
Phần nhiều vì lầm lẫn tài danh.
Ông tôn thờ Kê Khang, Nguyễn Tịch,
Vì thế người đời không ưa.
Nơi góc bể ông là một tên thư ký quèn,
Mắt nhập nhèm, tóc thì bạc như tơ.
Chống gậy có hình chim cưu mặc áo xanh,
Nào có phải là để nâng cái lưng đã khòm đâu.
Trong đời một chén rượu,
Tôi mong thấy được bạn thân.
Cùng ngóng nhau mà cùng chẳng thấy,
Đất trời thật là bao la.

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Thiên Thai cách ba sông,
Sớm chiều ùn sóng gió.
Trịnh công mà được về,
Già ốm đường hẳn lú.
Xưa như le trên sông,
Nay như thỏ trong rọ.
Tính mạng trong tay người,
Buồn đau cuồng mắt ngó.
Quỷ núi trơ một chân,
Rắn độc dài như nứa.
Kêu gào bên thành côi,
Năm tháng ai cùng ở?
Xưa nay trấn yêu ma,
Nhiều bậc tài danh lỡ.
Phu tử dòng Kê, Nguyễn,
Càng bị đời ghét bỏ.
Góc bể, viên lại quèn,
Mắt mờ tóc trắng rủ.
Gậy cưu cạnh áo xanh,
Dê bắt người cúi cổ.
Bình sinh một chén rượu,
Bạn, ta thường gặp gỡ.
Cùng ngóng được gì đâu,
Mênh mông lòng tưởng nhớ.
Bài này được làm năm 759 khi tác giả ở Tần Châu.

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, Hoàng Trung Thông, NXB Văn học, 1962
[1] Nay là huyện Lâm Hải, Chiết Giang.
[2] Trường giang, Chiết giang và Tào Nga giang.
[3] Kê tức Kê Khang 嵇康 (223-262), tự là Thúc Dạ 叔夜, người Tiều quận (nay là Bạc huyện, An Huy), nước Nguỵ thời Tam Quốc, là một tài tử, làm quan tới Trung tán đại phu, nghiên cứu Lão, Trang, sở trường thơ tứ ngôn, kết bạn với Sơn Thọ 山濤, Nguyễn Tịch 阮籍, là một trong nhóm Trúc Lâm thất hiền, sau bị Tư Mã Chiêu giết hại. Nguyễn tức Nguyễn Tịch 阮籍 (210-263), tự Tự Tông 嗣宗, người Uý Thị, Trần Lưu (nay thuộc Hà Nam), là con của Nguyễn Vũ 阮瑀 trong Kiến An thất tử. Nguyễn Tịch cũng là một trong Trúc Lâm thất hiền, nghe nói trong dinh có nhiều rượu, xin vào đó làm bộ binh hiệu uý để có rượu uống, nên còn có tên Nguyễn bộ binh. Kết bạn với Kê Khang 嵇康, Lưu Linh 劉伶. Sau ông lang thang sống nơi hoang dã.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Hữu hoài Thai châu Trịnh thập bát tư hộ Kiền