16/10/2021 20:17Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Du Châu sĩ Nghiêm lục thị ngự bất đáo, tiên há giáp
渝州候嚴六侍禦不到,先下峽

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn bát cú; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 18/04/2015 06:12

 

Nguyên tác

聞道乘驄發,
沙邊待至今。
不知雲雨散,
虛費短長吟。
山帶烏蠻闊,
江連白帝深。
船經一柱觀,
留眼共登臨。

Phiên âm

Văn đạo thừa thông phát,
Sa biên đãi chí kim.
Bất tri vân vũ tán,
Hư phí đoản trường ngâm.
Sơn đái Ô Man[1] khoát,
Giang liên Bạch Đế[2] thâm.
Thuyền kinh Nhất Trụ[3] quán,
Lưu nhãn cộng đăng lâm.

Dịch nghĩa

Nghe nói ông đã cưỡi ngựa nòi đi rồi,
Bên bãi cát chờ cho tới giờ.
Đã không biết rằng mây mưa tan,
Cứ ngâm hoài câu dài câu ngắn.
Giải núi ở Ô Man bát ngát,
Sông liền nhau khiến thành Bạch Đế nằm sâu.
Thuyền đi qua quán Nhất Trụ,
Mắt hãy để ý cùng lên cao chơi.

Bản dịch của Phạm Doanh

Nghe nói đã lên ngựa,
Bên bãi chờ tới giờ.
Chẳng biết mây mưa cuốn,
Dài ngắn cứ ngâm bừa.
Núi trải Ô Man rộng,
Sông liền Bạch Đế thưa.
Thuyền qua quán Nhất Trụ,
Lưu ý, chớ bỏ qua.
(Năm 765)

[1] Dân tộc ít người xưa ở vùng tây nam Trung Quốc, cũng dùng để chỉ cư chỉ của họ. Theo Tân Đường thư 新唐書: "Nam Chiếu... bản Ai Lao di hậu, Ô Man biệt chủng dã" 南詔...本哀牢夷後, 烏蠻别種也 (Nam Chiếu... vốn thuộc dân thiểu số ở Ai Lao, là một nhánh của nòi Ô Man).
[2] Thuộc huyện Phụng Tiết, Tứ Xuyên. Thời Đông Hán, Công Tôn Thuật chiếm cứ vùng này và xưng là Bạch Đế, nên có tên. Trước là thành của huyện Ngư Phúc, sau đổi thành huyện lị. Thành ở trên núi. Thời Tam Quốc, Lưu Bị phá quân Ngô do Lục Tốn cầm đầu. Lưu Bị trú quân ở Ngư Phúc, sau chết ở Vĩnh An cung, thuộc thành này.
[3] Tên một di chỉ cổ thuộc huyện Tùng Tư, Hồ Bắc, trong hồ Khâu Gia. Thời Nam triều, nước Tống, Lâm Xuyên vương Lưu Nghĩa Khánh 劉義慶 trấn giữ vùng này cho dựng quán (nơi tu hành của đạo sĩ). Quán rất hoành tráng, xây dựng trên một cột, vì thế mang tên.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Du Châu sĩ Nghiêm lục thị ngự bất đáo, tiên há giáp