31/03/2020 17:21Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Tây Kỳ thôn tầm trí thảo đường địa, dạ túc Tán công thổ thất kỳ 2
西枝村尋置草堂地,夜宿贊公土室其二

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 04/02/2015 15:24

 

Nguyên tác

天寒鳥已歸,
月出人更靜。
土室延白光,
松門耿疏影。
躋攀倦日短,
語樂寄夜永。
明燃林中薪,
暗汲石底井。
大師京國舊,
德業天機秉。
從來支許遊,
興趣江湖迥。
數奇謫關塞,
道廣存箕潁。
何知戎馬間,
復接塵事屏。
幽尋豈一路,
遠色有諸嶺。
晨光稍曚曨,
更越西南頂。

Phiên âm

Thiên hàn điểu dĩ quy,
Nguyệt xuất nhân cánh tĩnh.
Thổ ốc diên bạch quang,
Tùng môn cảnh sơ ảnh.
Tễ phan quyển nhật đoản,
Ngữ lạc ký dạ vĩnh.
Minh nhiên lâm trung tân,
Ám hấp thạch để tỉnh.
Đại sư kinh quốc cựu,
Đức nghiệp thiên cơ bỉnh.
Tòng lai Kỳ, Hứa[1] du,
Hứng thú giang hồ quýnh.
Số cơ trích quan tái.
Đạo quảng tồn Cơ, Dĩnh[2],
Hà tri nhung mã gian,
Phục tiếp trần sự bính.
U tầm khởi nhất lộ,
Viễn sắc hữu chư lĩnh.
Thần quang sảo mông lung,
Cánh việt tây nam đỉnh.

Dịch nghĩa

Trời lạnh chim đã về tổ,
Trăng mọc người cùng im.
Ánh trăng bạc trải trên khuôn viên nhà,
Cửa thông lơ thơ hình bóng,
Leo với vịn nên mệt và có cảm giác như ngày qua mau,
Chuyện vui thấy đêm dài.
Đốt sáng bằng củi trong rừng,
Múc nước từ giếng dưới đáy đá.
Hoà thượng trước kia ở nơi kinh đô,
Công tu hành do cơ trời định.
Tới giờ đi theo bước chân của Kỳ và Hứa,
Thấy vui nơi sông hồ xa tít.
Số phận là lùng là bị đổi tới vùng biên giới,
Mà đạo vốn rộng rãi còn ở cả núi Cơ lẫn sông Dĩnh.
Việc gì phải biết tới vùng loạn lạc,
Việc đời lại phải tiếp nhận đề dính với nó.
Tìm cái u tĩnh đâu phải chỉ có một đường,
Cái sắc xa có cái đỉnh cao của nó.
Ánh sáng ban mai hơi mờ ảo,
Rồi nó vượt qua đỉnh phía tây nam.

Bản dịch (của Bản dịch của Phạm Doanh)

Trời lạnh chim đã về,
Trăng mọc người im tiếng.
Khuôn viên trải ánh trăng,
Cửa thông bóng loáng thoáng.
Ngày ngắn mệt leo trèo,
Lời vui gửi đêm vắng.
Đốt củi soi trong rừng,
Kín nước dưới đáy giếng.
Đại sư chùa kinh đô,
Đức nghiệp máy trời chứng.
Theo về Kỳ, Hứa chơi,
Sông hồ xa nhiều hứng.
Số lạ, quan tái về,
Cơ, Dĩnh đạo vốn rộng.
Thời loạn chẳng cần hay,
Việc đời lại hờ hững.
Tìm tĩnh há một đường,
Sắc xa nó có chặng.
Ánh mai hơi lờ mờ,
Đỉnh tây nam bảng lảng.
(Năm 759)

[1] Kỳ Độn 支遁 (314-366), tự là Đạo Lâm, hiệu Kỳ Hình 支硎, tên tục có họ theo khai sinh là Quan 關, người Trần Lưu (Khai Phong, Hà Nam, có sách lại ghi là Lâm Lư, Hà Đông), một hoà thượng đời Đông Tấn, giỏi về viết chữ thảo, lệ, am hiểu nhiều về Lão Trang, ở ẩn trong vùng núi Dư Hàng, còn có tên tự là Đạo Lâm 道林, người đời thường gọi là Kỳ công 支公, Lâm công 林公; và Hứa Tuân 許詢, nhà văn học thời Đông Tấn cùng thời với Kỳ Độn, Vương Hy Chi 王羲之, Tôn Xước.
[2] Núi Cơ tại huyện Đăng Phong, Hà Nam; và sông Dĩnh, bắt nguồn từ huyện Đăng Phong, Hà Nam, chảy theo hướng đông nam, qua An Huy rồi vào Hoài Hà và). Tương truyền là nơi Hứa Do 許由 và Sào Phủ 巢父 ở ẩn.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Tây Kỳ thôn tầm trí thảo đường địa, dạ túc Tán công thổ thất kỳ 2