30/11/2020 21:36Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Phụng tặng thái thường Trương khanh nhị thập vận
奉贈太常張卿二十韻

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 14/03/2015 18:11

 

Nguyên tác

方丈三韓外,
昆侖萬國西。
建標天地闊,
詣絕古今迷。
氣得神仙迥,
恩承雨露低。
相門清議眾,
儒術大名齊。
軒冕羅天闕,
琳琅識介珪。
伶官詩必誦,
夔樂典猶稽。
健筆淩鸚鵡,
銛鋒瑩鸊鵜。
友于皆挺拔,
公望各端倪。
通籍逾青瑣,
亨衢照紫泥。
靈虯傳夕箭,
歸馬散霜蹄。
能事聞重譯,
嘉謨及遠黎。
弼諧方一展,
斑序更何躋。
適越空顛躓,
遊梁竟慘淒。
謬知終畫虎,
微分是醯雞。
萍泛無休日,
桃陰想舊蹊。
吹噓人所羨,
騰躍事仍睽。
碧海真難涉,
青雲不可梯。
顧深慚鍛煉,
才小辱提攜。
檻束哀猿叫,
枝驚夜鵲棲。
幾時陪羽獵,
應指釣璜溪。

Phiên âm

Phương trượng Tam Hàn[1] ngoại,
Côn Luân vạn quốc tây.
Kiến tiêu thiên địa khoát,
Nghệ tuyệt cổ kim mê.
Khí đắc thần tiên huýnh[2],
Ân thừa vũ lộ đê.
Tướng môn thanh nghị chúng,
Nho thuật đại danh tề.
Hiên miện la thiên khuyết,
Lâm lang thức giới khuê[3].
Lệnh quan[4] thi tất tụng,
Quỳ nhạc[5] điển do kê.
Kiện bút[6] lăng anh vũ,
Tiêm phong oánh nghích đề[7].
Hữu vu giai đĩnh bạt,
Công vọng các đoan nghê.
Thông tịch[8] du Thanh Toả[9],
Hanh cù[10] chiếu tử nê[11].
Linh cầu[12] truyền tịch tiễn,
Quy mã tán sương đề[13].
Năng sự văn trọng dịch,
Gia mô[14] cập viễn lê.
Bật hài[15] phương nhất triển,
Ban tự canh hà tễ.
Thích Việt[16] không điên chí,
Du Lương[17] cánh thảm thê.
Mậu tri chung hoạ hổ[18],
Vi phân thị ê kê[19].
Bình phiếm vô hưu nhật,
Đào âm tưởng cựu hề[20].
Xuy hư nhân sở tiện,
Đằng dược sự nhưng khuê.
Bích hải chân nan thiệp,
Thanh vân bất khả thê.
Cố thâm tàm đoán luyện,
Tài tiểu nhục đề huề.
Hạm thúc ai viên khiếu,
Chi kinh dạ thước thê.
Ky thời bồi vũ liệp,
Ưng chỉ điếu Hoàng Khê[21].

Dịch nghĩa

Nơi đạo sĩ ở thuộc vùng ngoài cõi Tam Hàn,
Núi Côn Luân ở về phía tây cả vạn nước.
Dựng nêu cao nơi trời đất rộng,
Đạt đến chỗ cùng tột khiến xưa nay mê mẩn.
Về uy tín, nhờ thần tiên ốp,
Còn ơn huệ nhờ mưa móc giỏ.
Nơi cửa nhà tướng có nhiều người ca ngợi,
Về đạo Nho, tên tuổi ngang với những vị lừng danh.
Cùng với các quan lớn đầy nơi cửa vua,
Đeo những viên ngọc loại dành cho các vương hầu.
Các quan coi về thi ca tất nhiên là ngâm thơ,
Về nhạc phải theo qui cách ông Quỳ.
Sức văn mạnh vút lên như chim anh vũ,
Mũi gươm bôi bóng mỡ chim nghích đề.
Các bạn bè đều tự lập thân,
Ông trông vào đó mà làm gương cho mình.
Có thẻ bài đi vào điện Thanh Toả,
Con đường làm quan thông suốt có đầy sắc chỉ.
Giờ giấc giữa đêm mà còn truyền công văn khẩn cấp,
Ngựa quay về trong buổi sáng tinh sương.
Việc cần thi hành qua bao lần thông dịch,
Chính sách hay được phổ cập cho đến dân nơi xa.
Kế hoạch vừa mới được đề ra,
Các cấp hành chánh theo đó mà thi hành cho nhất quán.
Đi về vùng Việt rặt là nghiêng ngửa,
Quay về chốn Lương lại thấy thảm thương.
Vì hiểu sai nên rốt cuộc là hỏng chuyện,
Cái nhỏ nhặt chính là cái làm nên chuyên như men rượu.
Cái kiếp bèo trôi không ngày ngưng nghỉ,
Cứ tưởng nhớ đến thời vàng son cũ.
Người đời ai mà không thích được tâng bốc.
Bỗng nhiên được thăng chức vọt khiến người ta chú ý.
Biển biếc thật khó mà lội qua,
Mây xanh không thể nào leo tới.
Nghĩ trong lòng thấy thẹn nên cố rèn luyện,
Tài hèn nên thấy nhục líu đíu theo người.
Chuồng chật nên vượn kêu khổ,
Chim sẻ đậu đêm lại sợ cành.
Có lúc nào tham dự vảo cuộc săn,
Muốn thả cần câu nơi ngòi Hoàng Khê.

Bản dịch của Phạm Doanh

Vùng Tam Hàn là phòng sư ở,
Phía tây các nước chỗ Côn Lôn.
Trời đất rộng, nêu chon von,
Thăm nơi chót vót mê hồn cổ kim.
Khí may nhờ thần tiên phù trợ,
Mưa móc cầu ơn huệ tràn trề.
Cửa quan tranh luận nhiều bề,
Học thuật ngang sánh các nhà hiền xưa.
Mũ áo thấy bứa bừa cửa khuyết,
Xênh xang được quen biết chức to.
Linh quan tất phải ngâm thơ,
Tích nhạc Quì vẫn còn là phép khuôn.
Sức văn mạnh vung tràn anh vũ,
Mũi gươm nhọn bóng mỡ bồ nông.
Bạn bè đều tự lập công,
Ông trông vào đó làm gương cho mình.
Đeo thẻ bài vào dinh Thanh Toả,
Đường làm quan sáng loá chiếu vua.
Rồng thiêng tên chiều truyền đưa,
Ngựa về móng cứ đạp bừa tuyết sương.
Việc cần làm qua đường dịch lại,
Mưu lược hay đưa tới dân xa.
Quy định vửa mới ban ra,
Các cấp theo đó làm cho đúng đường.
Đi tới Việt người thường lẩy bẩy,
Trở về Lương càng thấy thảm thương.
Hiểu sai, vẽ hổ là thường,
Chi ly nhỏ nhặt chính màng men gây.
Phận bèo nổi, không ngày nhàn hạ,
Mơ bóng đào tưởng nhớ chuyện xưa.
Tâng bốc ai mà không ưa,
Chạy chọt là việc đánh lừa người ta.
Bể biếc đó vượt qua khó được,
Mây xanh kia thang bắc không lên.
Lòng thấy thẹn, cố luyện rèn,
Vì tài kém cỏi chịu hèn thế thôi.
Chuồng chật hẹp bồi hồi vượn hót,
Vì sợ cành, chim thước đậu đêm.
Khi nào được theo cuộc săn,
Hoàng Khê mong thả cái cần câu thôi.
(Năm 754)

Lời dẫn nói Trương khanh tức Trương Quân 張均, một thi nhân thời Sơ Đường. Tuy nhiên, Hoàng Hạc 黃鶴, một nhà khảo cứu chuyên chú thích thơ Đỗ Phủ cho rằng Trương Quân không hề giữ chức thái thường khanh, bài thơ này đúng lẽ ra là tặng cho Trương Tự 張垍, cũng là một thi nhân thời Sơ Đường.

[1] Thời Hán, phần phía nam nước Triều Tiên 朝鲜 có ba vùng Mã Hàn 馬韓, Thần Hàn 辰韓 và Biện Thần 弁辰 (đời Tam Quốc đổi là Biện Hàn 弁韓) làm thành vùng Tam Hàn.
[2] Trương Quân nhờ việc cầu tiên mà thân cận với vua.
[3] Theo Kinh thi: "Tích nhĩ giới khuê, Dĩ tác nhĩ bảo" 錫爾介圭,以作爾寶 (Tích luỹ cái ngọc vua ban cho ngươi, Để làm của quý trong nhà). Trịnh Huyền 鄭玄 chú: Khuê dài thước hai gọi là giới, không phải là khuê của chư hầu.
[4] Chỉ quan lo về âm nhạc. Theo Kinh thi: "Vệ chi hiền giả, Sĩ ư lệnh quan".
[5] Chỉ nhạc nơi cung đình. Quỳ là tên vị quan coi về nhạc thời vua Thuấn.
[6] Do chữ "lăng vân kiện bút" 凌雲健筆 (sức bút mạnh kéo cả mây) hình dung phong cách thơ văn rất lôi cuốn, thoát tục.
[7] Còn được viết là 鷿鷈 hay 鷿鵜, là một loại chim nước nhỏ nhưng lặn giỏi, bắt cá rất nhanh, lông mượt mà không thấm nước. Người ta dùng mỡ loại chim này để bôi dao, dáo, dụng cụ bằng sắt hầu chống dỉ. Vùng nam Sở có nhiều, dân chài vùng này nuôi chúng làm phương tiện bắt cá: mỏ của chúng bị khâu lại nên không thể nuốt loại cá lớn, chờ cho chủ nhân tới gỡ cá thu về gây lợi.
[8] Tịch là miếng trúc dài hai thước ta, trên có nêu tên, tuổi, thân thế, được đeo trước ngực tiện việc kiểm tra ra vào. Thông tịch là ghi tên nơi cửa tiện việc ra vào cung môn. Sau này dùng để chỉ việc ra làm quan.
[9] Tên một cung điện đời Đường.
[10] Chỉ con đường hanh thông trước mắt.
[11] Người xưa dùng bùn đề dán thư, trên lớp bùn đóng dấu riêng. Thư của vua dùng bùn nhuộm đỏ.
[12] Thời xưa trên đồng hồ chỉ giờ bằng mực nước giỏ giọt có trang sức hình con cầu long, nên vì thế linh cầu cũng chỉ giờ giấc.
[13] Cũng viết 霜蹏, là móng ngựa. Chữ mượn của Nam Hoa kinh 南華經: "Mã, đề khả dĩ tiễn sương tuyết" 馬,蹄可以踐霜雪 (Ngựa, móng có thể dẫm lên sương tuyết).
[14] Hay "gia mưu" 嘉謀, chỉ chính sách hay mưu lược thích đáng cho nước.
[15] Xếp đặt cho công việc được trôi chảy. Chữ từ Kinh thư: "Doãn địch quyết đức, mô minh bật hài" 允迪厥德,謨明弼谐.
[16] Chữ từ Nam Hoa kinh 南華經: "Kim nhật thích Việt nhi tích chí" 今日適越而昔至 (Hôm nay rời đi vùng Việt mà ngày trước đã từng tới đó).
[17] Chữ từ Sử ký 史記, Tư Mã Tương Như truyện 司馬相如, chỉ đường làm quan không hanh thông.
[18] Từ chuyện vẽ hổ mà trông giống chó, bắt chước không khéo.
[19] Thời xưa cho hèm rượu là do mốc kết thành.
[20] Do chữ "Đào lý bất ngôn, há tự thành hề" 桃李不言,下自成蹊, chỉ nơi hấp dẫn dân chúng tới coi.
[21] Nơi Lã Vọng đời Chu ngồi câu.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Phụng tặng thái thường Trương khanh nhị thập vận