18/01/2021 12:20Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Tiêu Trọng Khanh thê - Đệ nhất đoạn
焦仲卿妻-第一段

Tác giả: Khuyết danh Trung Quốc

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Hán
Đăng bởi Vanachi vào 16/11/2008 03:09

 

Nguyên tác

孔雀東南飛,
五里一徘徊。
「十三能織素,
十四學裁衣,
十五彈箜篌,
十六誦詩書。
十七為君婦,
心中常苦悲。
君既為府吏,
守節情不移。
雞鳴入機織,
夜夜不得息。
三日斷五匹,
大人故嫌遲。
非為織作遲,
君家婦難為。
妄不堪驅使,
徒留無所施。
便可白公姥,
及時相遣歸。」

府吏得聞之,
堂上啟阿母:
「兒已薄祿相,
幸復得此婦。
結髮同枕席,
黃泉共為友。
共事二三年,
始爾未為久。
女行無偏斜,
何意致不厚?」
阿母謂府吏:
「何乃太區區!
此婦無禮節,
舉動自專由。
吾意久懷忿,
汝豈得自由?
東家有賢女,
自名秦羅敷。
可憐體無比,
阿母為汝求。
便可速遣之,
遣去慎莫留!」
府吏長跪告,
伏惟啟阿母:
「今若遣此婦,
終老不復取!」
阿母得聞之,
槌床便大怒:
「小子無所畏,
何敢助婦語!
吾已失恩義,
會不相從許!」

Phiên âm

Khổng tước[1] đông nam phi,
Ngũ lý nhất bồi hồi.
“Thập tam năng chức tố,
Thập tứ học tài y,
Thập ngũ đàn không hầu[2],
Thập lục tụng Thi, Thư[3].
Thập thất vi quân phụ,
Tâm trung thường khổ bi.[4]
Quân ký vi phủ lại[5],
Thủ tiết tình bất di.[6]
Kê minh nhập cơ chức,
Dạ dạ bất đắc tức.
Tam nhật đoạn ngũ thất[7],
Đại nhân[8] cố hiềm trì.
Phi vi chức tác trì,
Quân gia phụ nan vi.
Vọng[9] bất kham khu sứ,
Đồ lưu vô sở thi.
Tiện khả bạch công mụ[10],
Cập thì tương khiển quy.”

Phủ lại đắc văn chi,
Đường thượng khởi a mẫu:
“Nhi dĩ bạc lộc tướng,
Hạnh phục đắc thử phụ.
Kết phát[11] đồng chẩm tịch,
Hoàng tuyền cộng vi hữu.
Cộng sự nhị tam niên,
Thuỷ nhĩ vị vi cửu.
Nữ hạnh vô thiên tà[12],
Hà ý trí bất hậu?”
A mẫu vị phủ lại:
“Hà nãi thái khu khu[13]!
Thử phụ vô lễ tiết,
Cử động tự chuyên do.
Ngô ý cửu hoài phẫn,
Nhữ khởi đắc tự do?
Đông gia hữu hiền nữ,
Tự danh Tần La Phu.
Khả liên[14] thể vô tỷ,
A mẫu vi nhữ cầu.
Tiện khả tốc khiển chi,
Khiển khứ thận mạc lưu!”
Phủ lại trường quỵ cáo,
Phục duy khởi a mẫu:
“Kim nhược khiển thử phụ,
Chung lão bất phục thủ[15]!”
A mẫu đắc văn chi,
Chuỳ sàng tiện đại nộ:
“Tiểu tử vô sở uý,
Hà cảm trợ phụ ngữ!
Ngô dĩ thất ân nghĩa[16],
Hội bất tương tòng hứa!”

Bản dịch của Điệp luyến hoa

Khổng tước đông nam bay,
Năm dặm lại bồi hồi.
“Mười ba biết dệt lụa,
Mười bốn học cắt may.
Mười lăm gảy không hầu,
Mười sáu đọc Thi, Thư.
Mười bảy về làm vợ,
Tâm sầu khổ ai bi.
Chàng thân làm phủ lại,
Thủ tiết lòng bất di.
Gà gáy ngồi dệt vải,
Đêm đêm vẫn miệt mài.
Ba ngày năm thước lụa,
Mẹ trách chẳng nhanh tay.
Nào phải thiếp dệt chậm,
Dâu nhà chàng khó thay.
Thiếp không cam sai khiến,
Ở lại làm gì đây.
Tiện cớ thưa với mẹ,
Đuổi về, đành đi ngay.”

Phủ lại vừa nghe hết,
Lên gặp mẹ giãi bày:
“Tướng của con ít lộc,
Có vợ hiền thật may.
Kết tóc cùng chăn gối,
Suối vàng chẳng chia tay.
Hai, ba năm chung sống,
Chưa thể nói là dài.
Phẩm hạnh không thiên lệch,
Sao đối xử bạc thay?”
Mẹ trả lời phủ lại:
“Ngươi nào biết gì đây!
Vợ mày vô lễ tiết,
Tự chuyên việc nhỏ to.
Từ lâu ta đã giận,
Ngươi há được tự do?
Mé đông có hiền nữ,
Tên là Tần La Phu.
Đáng yêu ai sánh được,
Ta vì ngươi đến cầu.
Nhân tiện nên sớm đuổi,
Nhất định chẳng thể lưu!”
Phủ lại quỳ gối mãi,
Cúi rạp trước mẹ thưa:
“Nếu nay mà đuổi vợ,
Đến già chẳng lấy ai!”
Mẹ nghe lời thưa thốt,
Vỗ sập giận dâng đầy:
“Tiểu tử không biết sợ,
Sao dám nói lời này!
Ta ân tình đã tuyệt,
Quyết không thể chiều mày!”
Bài ca này đầu tiên được thấy trong Ngọc đài tân vịnh do Từ Lăng 徐陵 người nước Trần ở Nam triều biên soạn, đề là Cổ thi vi Tiêu Trọng Khanh thê tác 古詩為焦仲卿妻作 (Bài cổ thi làm thay vợ Tiêu Trọng Khanh), lời tự viết: “Hán mạt Kiến An trung, Lư Giang phủ tiểu lại Trọng Khanh thê Lưu thị, vị Trọng Khanh mẫu sở khiển, tự thệ bất giá. Kỳ gia bức chi, nãi một thuỷ nhi tử. Khanh văn chi, diệc tự ải ư đình thụ. Thời nhân thương chi, vi thi vân nhĩ” 漢末建安中,廬江府小吏仲卿妻劉氏,為仲卿母所遣,自誓不嫁。其家逼之,乃沒水而死。卿聞之,亦自縊於庭樹。時人傷之,為詩云爾 (Năm Kiến An đời Hán mạt, tiểu lại phủ Lư Giang là Trọng Khanh có vợ họ Lưu, vì bị mẹ Trọng Khanh đuổi, thề không tái giá. Bị nhà bức ép, nhảy xuống nước tự vẫn. Khanh nghe tin, cũng tự thắt cổ ở cây trước sân. Có người thời đó thương tâm, làm thơ thuật lại).

Nhạc phủ thi tập xếp bài này vào Tạp khúc ca từ, đề là Tiêu Trọng Khanh thê 焦仲卿妻. Hậu nhân thường dùng câu đầu làm đề nên còn gọi là Khổng tước đông nam phi 孔雀東南飛.

Căn cứ vào một số phong tục và địa danh dùng trong bài thơ, như “thanh lư” được dùng trong hôn lễ chỉ có ở Bắc triều, và “Giao, Quảng” thì Quảng châu chỉ có từ đời Tam quốc, nên có thuyết cho rằng bài thơ này được viết sau năm Kiến An (196-219). Tuy nhiên, căn cứ vào phong cách toàn bài, đa số đều công nhận rằng đây là một bài dân ca đời Hán, trong quá trình lưu truyền không thể tránh khỏi bị thay đổi hoặc thêm thắt. Bài dài 1775 chữ, được chia làm bốn đoạn, là bài thơ tự sự đỉnh cao nhất cả về nghệ thuật lẫn tư tưởng trong nhạc phủ đời Hán.

Đoạn 1 kể về cuộc sống của Lan Chi khi làm dâu nhà họ Tiêu đến khi bị đuổi.

[1] Chim công. Bài thơ mở đầu bằng khổng tước bay về đông nam, nhưng vẫn lưu luyến kẻ phối ngẫu mà bồi hồi. Đây có thể là phần diễm 艷 (khởi đầu) khi diễn xướng. Những câu trở về sau đến “...tương khiển quy” đều là lời Lan Chi nói với Trọng Khanh.
[2] Một loại đàn thời xưa gần giống đàn tranh, sắt, có hai loại để nằm hoặc đứng, có 23 dây, dùng hai tay để gảy. Còn viết là 空侯.
[3] Thi kinh 詩經 và Thư kinh 書經, hai bộ sách kinh điển.
[4] Ngọc đài tân vịnh dưới câu này còn chép thêm 3 câu “Tiện thiếp lưu không phòng, Tương kiến thường tự hy, Bỉ ý thường y y” 賤妾留空房,相見常自稀,彼意常依依 (Thiếp một mình trong phòng, Thường tự mong mỏi gặp nhau, Ý nguyện mãi không nguôi) ngờ không phải.
[5] Một người sai vặt trong phủ. Tự nói Trọng Khanh là phủ lại ở phủ Lư Giang.
[6] Bốn câu ý nói mười bảy tuổi về làm vợ Trọng Khanh, chàng làm quan phủ ít khi về nhà, thiếp một mình sầu bi.
[7] Xưa bốn trượng là một thất, ở đây tạm dịch là thước cho dễ hiểu.
[8] Người bề trên, ở đây Lan Chi dùng để chỉ mẹ chồng.
[9] Chữ Lan Chi dùng để tự gọi mình.
[10] Mẹ chồng. Chữ công chỉ cha chồng, mụ có nghĩa là mẹ hoặc vợ, nên công mụ vốn có thể hiểu là cha mẹ chồng (hai từ đơn), hoặc là mẹ chồng (từ phức). Tuy nhiên căn cứ vào nội dung toàn bài cho thấy cha của Trọng Khanh đã không còn, nên ở đây hiểu là mẹ chồng theo nghĩa là từ phức.
[11] Buộc tóc, chỉ người đã trưởng thành. Xưa con trai hai mươi tuổi thì buộc tóc đội mũ, con gái mười lăm tuổi buộc tóc cài trâm.
[12] Thiên lệch, bất chính, không ngay thẳng.
[13] Hiểu biết ít ỏi.
[14] Nghĩa ở đây là đáng yêu.
[15] Do chữ “thú” 娶, lấy vợ.
[16] Tức hết ân nghĩa với Lan Chi.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Khuyết danh Trung Quốc » Tiêu Trọng Khanh thê - Đệ nhất đoạn