20/10/2021 14:24Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Xuất chinh
出征

Tác giả: Đặng Trần Côn - 鄧陳琨

Thể thơ: Cổ phong (cổ thể); Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 19/02/2006 16:06

 

Nguyên tác

渭橋頭清水溝
清水邊青草途
送君處兮心悠悠
君登途兮妾恨不如駒
君臨流兮妾恨不如舟
清清有流水
不洗妾心愁
青青有芳草
不忘妾心憂
語復語兮執君手
步一步兮牽君襦
妾心隨君似明月
君心萬里千山箭
擲離杯兮舞龍泉
橫征槊兮指虎穴
云隨介子獵樓蘭
笑向蠻溪談馬援
君穿壯服紅如霞
君騎驍馬白如雪
驍馬兮鸞鈴
征鼓兮人行
須臾中兮對面
頃刻裡兮分程
分程兮河梁
徘徊兮路旁
路旁一望兮旆央央
前車兮北細柳
後騎兮西長楊
騎車相擁君臨塞
楊柳那知妾斷腸
去去落梅聲漸遠
行行征旆色何忙
望雲去兮郎別妾
望山歸兮妾思郎
郎去程兮濛雨外
妾歸處兮昨夜房
歸去兩回顧
雲青兮山蒼
郎顧妾兮咸陽
妾顧郎兮瀟湘
瀟湘煙阻咸陽樹
咸陽樹隔瀟湘江
相顧不相見
青青陌上桑
陌上桑陌上桑
妾意君心誰短長

Phiên âm

Vị kiều đầu thanh thuỷ câu
Thanh thuỷ biên thanh thảo đồ
Tống quân xứ hề tâm du du
Quân đăng đồ hề thiếp hận bất như câu
30. Quân lâm lưu hề thiếp hận bất như chu
Thanh thanh hữu lưu thuỷ
Bất tẩy thiếp tâm sầu
Thanh thanh hữu phương thảo
bất vong thiếp tâm ưu
35. Ngữ phục ngữ hề chấp quân thủ
Bộ nhất bộ hề khiên quân nhu
Thiếp tâm tuỳ quân tự minh nguyệt
Quân tâm vạn lý Thiên Sơn tiễn
Trịch ly bôi hề vũ Long Tuyền
40. Hoành chinh sáo hề chỉ hổ huyệt
Vân tuỳ Giới Tử liệp Lâu Lan
Tiếu hướng Man Khê đàm Mã Viện
Quân xuyên trang phục hồng như hà
Quân kỵ kiêu mã bạch như tuyết
45. Kiêu mã hề loan linh
Chinh cổ hề nhân hành
Tu du trung hề đối diện
Khoảnh khắc lý hề phân trình
Phân trình hề hà lương
50. Bồi hồi hề lộ bàng
Lộ bàng nhất vọng hề bái ương ương
Tiền xa hề Bắc Tế Liễu,
Hậu kỵ hề Tây Trường Dương
Kỵ xa tương ủng quân lâm tái
55. Dương liễu na tri thiếp đoạn trường
Khứ khứ lạc mai thanh tiệm viễn
Hành hành chinh bái sắc hà mang
Vọng vân khứ hề lang biệt thiếp
Vọng sơn quy hề thiếp tư lang.
60. Lang khứ trình hề mông vũ ngoại
Thiếp quy xứ hề tạc dạ phòng
Quy khứ lưỡng hồi cố
Vân thanh hề sơn thương
Lang cố thiếp hề Hàm Dương
65. Thiếp cố lang hề Tiêu Tương
Tiêu Tương yên trở Hàm Dương thụ
Hàm Dương thụ cách Tiêu Tương giang
Tương cố bất tương kiến
Thanh thanh mạch thượng tang
70. Mạch thượng tang mạch thượng tang
Thiếp ý quân tâm thuỳ đoản trường

Bản dịch của Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích

25. Ngòi đầu cầu nước trong như lọc
Đường bên cầu cỏ mọc còn non
Đưa chàng lòng dặc dặc buồn
Bộ khôn bằng ngựa thuỷ khôn bằng thuyền
Nước có chảy mà phiền khôn rửa
30. Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuây
Nhủ rồi tay lại cầm tay
Bước đi một bước dây dây lại dừng
Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi
Dạ chàng xa tìm cõi Thiên San[1]
35. Múa gươm[2] rượu tiễn chưa tàn
Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo
Săn Lâu Lan rằng theo Giới Tử[3]
Tới Man Khê bàn sự Phục Ba[4]
Áo chàng đỏ tựa ráng pha
40. Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in
Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống
Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay
Hà lương[5] chia rẽ đường này
Bên đường trông lá cờ bay ngùi ngùi
45. Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu[6]
Kỵ sau còn khuất nẻo Tràng Dương[7]
Quân đưa chàng ruổi lên đường
Liễu dương biết thiếp đoạn đường này chăng?
Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng
50. Hàng cờ bay trong bóng phất phơ
Dấu chàng theo lớp mây đưa
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà
Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
55. Đoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh
Chốn Hàm kinh[8] chàng còn ngoảnh lại
Bến Tiêu Tương[9] thiếp hãy trông sang
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
60. Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Nguồn: Đoàn Thị Điểm, Chinh phụ ngâm diễn ca, Nxb Văn học, 2007
[1] Có câu hát “Tướng quân tam tiễn định Thiên San, tráng sĩ trường ca nhập Hán quan” (ba mũi tên của tướng quân lấy được núi Thiên Sơn, tráng sĩ hát dài mà kéo quân vào cửa ải Hán)
[2] Tức gươm Long Tuyền, tên một thanh kiếm báu
[3] Lâu Lan là một nước nhỏ ở Tây Vực, vua tên Toại giết sứ Hán. Chiêu đế sai Phó Giới Tử giả tiếng đi săn, lập mưu giết Toại.
[4] Mã Viện, đời Đông Hán, lĩnh chức Phục Ba tướng quân, từng đánh dẹp bọn rợ ở Man Khê.
[5] (Hà: sông, lương: cầu) ngày xưa tiễn đưa nhau thường đến chốn “cầu sông”.
[6] Tức doanh Tế Liễu. Vua Hán Văn Đế đến doanh Tế Liễu là nơi đồn quân của tướng Chu Á Phu để khao thưởng quân sĩ.
[7] Tên đất cũ đời Tần, thuộc tỉnh Thiểm Tây.
[8] Kinh đô Hàm Dương nhà Tần, ở tỉnh Thiểm Tây.
[9] Chỗ hợp lưu sông Tiêu và sông Tương ở tỉnh Hồ Nam.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đặng Trần Côn » Xuất chinh