08/05/2021 02:47Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Tặng Vương nhị thập tứ thị ngự Khế tứ thập vận
贈王二十四侍禦契四十韻

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 16/04/2015 22:47

 

Nguyên tác

往往雖相見,
飄飄愧此身。
不關輕紱冕,
俱是避風塵。
一別星橋夜,
三移斗柄春。
敗亡非赤壁,
奔走為黃巾。
子去何瀟灑,
余藏異隱淪。
書成無過雁,
衣故有懸鶉。
恐懼行裝數,
伶俜臥病頻。
曉鶯工迸淚,
秋月解傷神。
會面嗟黧黑,
含淒話苦辛。
接輿還入楚,
王粲不歸秦。
錦裏殘丹灶,
花溪得釣綸。
消中只自惜,
晚起索誰親。
伏柱聞周史,
乘槎似漢臣。
鴛鴻不易狎,
龍虎未宜馴。
客則掛冠至,
交非傾蓋新。
由來意氣合,
直取性情真。
浪跡同生死,
無心恥賤貧。
偶然存蔗芋,
幸各對松筠。
粗飯依他日,
窮愁怪此辰。
女長裁褐穩,
男大卷書勻。
堋口江如練,
蠶崖雪似銀。
名園當翠巘,
野棹沒青蘋。
屢喜王侯宅,
時邀江海人。
追隨不覺晚,
款曲動彌旬。
但使芝蘭秀,
何煩棟宇鄰。
山陽無俗物,
鄭驛正留賓。
出入並鞍馬,
光輝忝席珍。
重遊先主廟,
更曆少城闉。
石鏡通幽魄,
琴台隱絳唇。
送終惟糞土,
結愛獨荊榛。
置酒高林下,
觀棋積水濱。
區區甘累趼,
稍稍息勞筋。
網聚粘圓鯽,
絲繁煮細蓴。
長歌敲柳癭,
小睡憑藤輪。
農月須知課,
田家敢忘勤。
浮生難去食,
良會惜清晨。
列國兵戈暗,
今王德教淳。
要聞除猰貐,
休作畫麒麟。
洗眼看輕薄,
虛懷任屈伸。
莫令膠漆地,
萬古重雷陳。

Phiên âm

Vãng vãng tuy tương kiến,
Phiêu phiêu quĩ thử thân.
Bất quan khinh phất miện,
Câu thị tịch phong trần.
Nhất biệt Tinh kiều[1] dạ,
Tam di Đẩu Bính[2] xuân.
Tán vong phi Xích Bích[3],
Bôn tẩu vị Hoàng Cân[4].
Tử khứ hà tiêu sái,
Dư tàng dị ẩn luân.
Thư thành vô quá nhạn,
Y cố hữu huyền thuần.
Khủng cụ hành trang số,
Linh phinh ngoạ bệnh tần.
Hiểu oanh công bính lệ,
Thu nguyệt giải thương thần.
Hội diện ta lê hắc,
Hàm thê thoại khổ tân.
Tiếp Dư[5] hoàn nhập Sở,
Vương Xán[6] bất quy Tần.
Cẩm lý tàn đan táo,
Hoa khê đắc điếu luân.
Tiêu trung chỉ tự tích,
Vãn khởi sách thuỳ thân.
Phục trụ[7] văn Chu sứ,
Thừa tra tự Hán thần[8].
Uyên hồng bất dị hiệp,
Long hổ vị nghi thuần.
Khách tắc quải quan chí,
Giao phi khuynh cái tân.
Do lai ý khí hợp,
Trực thủ tính tình chân.
Lãng tích đồng sinh tử,
Vô tâm sỉ tiện bần.
Ngẫu nhiên tồn giá dụ,
Hạnh các đối tùng quân.
Thô phạn y tha nhật,
Cùng sầu quái thử thần.
Nữ trưởng tài cát ổn,
Nam đại quyển thư quân.
Bằng khẩu giang như luyện,
Tàm nhai[9] tuyết tự ngân.
Danh viên đương thuý nghiễn,
Dã trạo một thanh tần.
Lũ hỉ vương hầu trạch,
Thì yêu giang hải nhân.
Khiên tuỳ bất giác vãn,
Khoán khúc động di tuần.
Đãn sử chi lan tú,
Hà phiền đống vũ lân.
Sơn dương vô tục vật,
Trịnh dịch[10] chính lưu tân.
Xuất nhập tịnh yên mã,
Quang huy thiêm tịch trân.
Trùng du Tiên Chủ miếu,
Cánh lịch Thiếu thành nhân.
Thạch Kính[11] thông u phách,
Cầm Đài[12] ẩn giáng thần.
Tống chung duy xí thổ,
Kết ái độc kinh trăn.
Trí tửu cao lâm hạ,
Quan kỳ tích thuỷ tân.
Khu khu cam luy nghiễn,
Sảo sảo tức lao cân.
Võng tụ niêm viên tức,
Tì phiền chử tế thuần.
Trường ca xao liễu anh,
Tiểu thuỵ bằng đằng luân.
Nông nguyệt tu tri khoá,
Điền gia cảm vong cần.
Phù sinh nan khử thực,
Lương hội tích thanh thần.
Liệt quốc binh qua ám,
Kim vương đức giáo thuần.
Yếu văn trừ nghiệt dũ,
Hưu tác hoạ kỳ lân.
Tẩy nhãn khán khinh bạc,
Hư hoài nhiệm khuất thân.
Mạc linh giao tất địa,
Vạn cổ trọng Lôi Trần[13].

Dịch nghĩa

Tuy rằng thường thường gặp nhau,
Nhưng tôi thấy ngượng vì thân mình lêu bêu.
Không phải liên quan tới việc coi nhẹ mũ với dây đeo ấn,
Mà chính vì tránh né gió bụi.
Từ cái đêm chia tay ở Tinh kiều đó,
Thế mà đã ba mùa xuân sao Quai Chén chuyển vần.
Tan nát chẳng phải là do trận Xích Bích,
Trốn chạy chỉ vì giặc Khăn Vàng.
Ông ra đi sao mà thanh thoát vậy,
Tôi ẩn náu dễ chìm trong quên lãng.
Thư viết xong nhưng nhạn chẳng ghé lại,
Áo vẫn giữ vẻ anh nhà quê.
Rất hoảng sợ qua mấy lần cuốn gói ra đi,
Vất vưởng bị bệnh hoài.
Chim oanh ban mai khéo làm rớt nước mắt,
Trăng thu làm giảm bớt lòng buồn.
Gặp mặt thấy ngượng vì đen đủi,
Nén đau xót khi nói đến nỗi vất vả của mình.
Tiếp Dư rồi cũng trở lại đất Sở,
Vương Xán đã không trở lại vùng Tần.
Tại làng Cẩm, lò luyện thuốc tắt ngúm,
Nơi khe Hoãn Hoa được thả cần câu.
Chỉ tự thương mình là mắc bệnh tiểu đường.
Sáng dậy biết lấy ai là người thân,
Gục dưới cột nghe viên sứ nhà Chu,
Lên bè giống như viên quan nhà Hán,
Chim uyên, chim thuần không dễ gì mà làm quen,
Rồng với hổ thì chưa được dạy cho thuần thục.
Khách khi tới tất đội mũ quan,
Đón tiếp không thể lại ngả lọng.
Nguyên do là vì ý khí hợp với nhau,
Hiểu rõ tấm lòng thành thật đối với nhau.
Lang bang cùng sống chết,
Không có ý tủi vì nghèo hèn.
Lúc nào cũng còn khoai với mía,
May mắn mà gặp được trúc cùng thông.
Y hệt ngày trước ăn cơm độn,
Thấy lạ là lúc này vẫn buồn đứt ruột.
Gái lớn rồi may áo khéo,
Trai nên người xếp sách gọn.
Miệng đập ngăn nước sông trông trắng như lụa,
Đường Tằm tuyết phủ như mạ bạc.
Khu vườn nổi tiếng ngay đỉnh núi biếc,
Mái chèo nơi quê lấp sau đám tần xanh.
Thường vui với nhà của các vương hầu,
Lại có lúc gặp người của sông bể.
Miệt mài không hay là trời đã muộn,
Khiến trong lòng cảm kích kéo dài đến mười ngày.
Nếu đã có được cỏ chi, hoa lan tươi tốt rồi,
Thì cần gì để ý đến phòng ốc bên cạnh.
Nơi nam núi không có cái thứ thô tục.
Quán họ Trịnh đúng là nơi đón khách.
Ra vào đều có ngựa đóng yên sẵn,
Rỡ ràng còn thêm chiếu quý.
Tới thăm lại miếu Tiên chủ,
Mà được biết cổng của Thiếu Thành.
Gương đá toát ra cái hồn lẩn quất,
Nơi gẩy đàn thoáng bóng môi son.
Chôn sau cùng thì cũng là đất bùn,
Gắn bó tình yêu nay chỉ thấy cỏ gai.
Bày rượu dưới cây cao trong rừng,
Coi đánh cờ bên bờ nước.
Cứ cắn răng mà chịu cảnh chân rộp da,
Dần dà để gân cốt bớt đau nhức.
Lưới dầy gom trọn cá diếc béo tròn,
Luộc rau rút nhỏ rễ dầy như tơ.
Ca vang gõ vào cái u nơi gốc liễu,
Chợp mắt dựa trên gối cỏ.
Tháng vào mùa cần theo đúng hạn,
Nhà nông nào dám lơ là.
Cuộc sống gửi này đâu có bỏ miếng ăn được,
Tiếc nhớ buổi sáng tốt đẹp được gặp gỡ nhau.
Nơi nơi chiến tranh còn mù trời,
Nhà vua ngày nay lấy đức dạy dỗ dân đã thuần.
Cần nghe trừ khử được lũ hung dữ,
Ngưng việc vẽ hình trong đài kỳ lân.
Rửa mắt để thấy rõ cái tính coi thường, khinh rẻ,
Để trống cõi lòng mà tiếp thu lấy điều giãi tỏ khúc nhôi.
Chớ ra lệnh ở cái nơi tình nghĩa gắn bó,
Ngàn đời phải coi nặng mối tương quan giữa Lôi Nghĩa, Trần Trọng.

Bản dịch của Phạm Doanh

Thường vẫn gặp mấy năm về trước,
Buồn thân này tan tác điêu linh.
Chẳng vì mũ áo coi khinh,
Mà vì gió bụi cố tình lánh xa.
Đêm Tinh Kiều, chúng ta chia cách,
Sao Quai Ly đã nhếch ba lần.
Xích Bích chẳng khiến nát tan,
Phải chạy tứ tán, Hoàng Cân tới gần.
Anh ra đi sao nhàn nhã thế,
Tôi ẩn thân lại dễ tiêu vong.
Nhạn chẳng tới, thư viết xong,
Áo quần giống hệt cái ông quê mùa.
Mấy lượt đi, trải qua hoảng sợ,
Đã lênh đênh lại bị bệnh luôn.
Nghe oanh sớm, dòng lệ tuôn,
Trăng thu mong giải cái hồn đau thương.
Gặp mặt than cho gương đen thủi,
Nén cơn buồn kể nỗi xót sa.
Tiếp Dư đất Sở không ra,
Vùng Tần Vương Xán về mà làm chi.
Làng Cẩm, bếp nguội khi luyện thuốc,
Khe Hoãn hoa buông được cần câu.
Tiếc thay bụng cứ quặn đau,
Buổi sáng trở dậy ai nào quen thân.
Gục dưới cột nghe quan Chu sử,
Bước lên bè tương tự Hán thần.
Uyên, hồng không dễ làm quen,
Rồng, hổ lại thấy chưa thuần để chơi.
Khách tất đội khăn thời tới cửa,
Bạn bè chơi há ngả lọng vàng.
Mà vì lòng hợp với lòng,
Cứ theo tình thật trong vòng thẳng băng.
Cùng sống chết lang bang khắp chốn,
Cảnh nghèo hèn chẳng thẹn mảy may.
Bỗng đâu khoai mía còn đây,
Thông trúc trước mặt may thay đối đều.
Giống ngày trước, cơm thiu gạo hẩm.
Sao sáng nay lại cảm thấy buồn.
Khéo may cắt, gái lớn khôn,
Trai thì sách vở biết ngăn nắp rồi.
Ngay cửa kênh nước trôi như lụa,
Đường hình tằm, tuyết tựa bạc vun.
Vườn đẹp đang độ xanh rờn,
Chèo quê mất hút ở bên bụi tần.
Nhà vương hầu nhiều lần vui tới,
Lại có khi cùng với khách chơi.
Kéo lôi chẳng biết tối rồi,
Cõi lòng cảm kích kéo mười ngày luôn.
Đã có được chi, lan thơm nức,
Còn cần gì phòng ốc ngay bên.
Sơn dương vốn vắng vật hèn,
Quán họ Trịnh giữ khách quen quá mà.
Ra vào, yên ngựa đà đóng sẵn,
Lại còn thêm nệm gấm sáng ngời.
Miếu Tiên chủ lại tới chơi,
Thế nên biết được cửa nơi Thiếu Thành.
Mồ Thạch Kính u linh mong thoát,
Chốn Cầm Đài phảng phất môi son.
Nơi chôn nay chỉ có bùn,
Yêu thương cho lắm chỉ còn cỏ gai.
Rừng rậm đem rượu bày dưới gốc,
Coi cờ, cạnh bãi nước đọng ngưng.
Cắn răng mà chịu chân phồng,
Dần dà tìm cách giảm căng sức người.
Lưới gói trọn cá tươi tròn bẫm,
Rau rút mành rễ lắm nấu lâu.
Gõ gốc liễu, nhịp hát ngao,
Mơ màng giấc ngủ, gối đầu dây leo.
Tháng làm ruộng nên theo đúng lúc,
Là nhà nông đâu được lơ là.
Bỏ ăn, sống gửi khó mà,
Sáng mát lại tiếc năm ba hội hè.
Khắp mọi nơi bụi mờ dáo mác,
Nhà vua nay lấy đức dạy dân.
Mong nghe lũ ác diệt dần,
Đài kì lân vẽ, bớt lần đi thôi.
Rửa mắt để mà coi khinh bạc,
Bụng rỗng không, ký thác nguồn cơn.
Chớ ra lệnh, chỗ keo sơn,
Xưa nay vẫn quí cặp Trần với Lôi.
(Năm 764)

Nguyên chú: "Vương Khế tự Tá Khanh, Kinh Triệu nhân" 王契字佐卿,京兆人 (Vương Khế tự Tá Khanh, người gốc kinh đô).

[1] Tức Thất Tinh kiều tại Thành Đô, theo truyền thuyết do Lưu Băng 李冰 khi trấn nhậm nơi này cho bắc trên hướng về chòm Bắc Đẩu thất tinh nên có tên này.
[2] Trong bảy chòm sao Bắc, sao nhỏ từ thứ năm đến thứ bảy giống như cái quai chén.
[3] Thuộc địa phận huyện Bồ Kỳ, Hồ Bắc. Tương truyền nơi xảy ra cuộc chiến giữa Ngô và Nguỵ thời Tam Quốc. Chu Du chỉ huy quân Ngô đã dùng lửa đốt cháy các thuyền của Tào Tháo, người chỉ huy quân Nguỵ, gây ra lửa cháy lớn, khiến sườn núi có màu đỏ.
[4] Cuối thời Đông Hán, Trương Giác 張角 vận động nông dân khởi nghĩa. Để cho dễ nhận ra nhau, họ đã quấn khăn vàng trên đầu.
[5] Tự của Lục Thông 陸通, người nước Sở thời Xuân Thu, còn gọi là Sở Cuồng. Bất mãn với cách cai trị của vua Sở Chiêu Vương mà giả làm kẻ cuồng lui về ở ẩn. Khi Khồng Tử có ghé nước Sở, nghe ông hát. Khổng Tử cố đi tìm gặp để hỏi chuyện nhưng không được.
[6] Tự Trọng Tuyên, người nước Nguỵ thời Tam Quốc, là một trong Kiến An thất tử. Khi ở Kinh Châu, ông thường ở trên lầu cao, viết bài Đăng lâu phú, tỏ ý nhớ nhà.
[7] Do chữ "trụ hạ sử" 柱下史, khởi đầu chỉ chức quan đời Chu, Tần. Sau đời Hán, chỉ quan ngự sử, vì các vị này khi chầu vua, thường đứng dưới cột nơi điện vua. Đỗ Phủ nhắc lại biến cố ông bị đưa ra hạch tội vì can gián vua nhân vụ Phòng Quán.
[8] Chỉ Trương Khiên, thời Hán Vũ Đế do quân công mà được phong tước là Bác Vọng hầu.
[9] Thuộc huyện Đô Giang, Tứ Xuyên, vì đường hiểm trở, cong queo như con tằm, nên mang tên.
[10] Do chữ "Trịnh dịch lưu tân" 鄭驛留賓 (Quán ông họ Trịnh đương thì giữ khách) trong Hán thư, ý nói lòng hiếu khách.
[11] Một huyền thoại ghi trong chuyện chép về đất Thục nói đây là mộ của một chàng giả gái, có nhan sắc, được vua xứ Thục lấy làm vợ, chết chôn đất Thục, lấy đá sáng như gương làm nhà táng, dài hai trượng, cao năm thước.
[12] Nhà của Tư Mã Tương Như ở Thành Đô, phía tây Trá kiều, phía bắc có Cầm Đài.
[13] Do chữ "Lôi Trần giao tất" 雷陳膠漆 (Thân thiết như Lôi với Trần). Theo Hậu Hán thư 後漢書, Lôi Nghĩa 雷義 và Trần Trọng 陳重 người này sống vào đời Đông Hán cùng làm quan và khiêm tốn đối đãi nhau, nên đương thời có câu "Giao tất tự vị kiên, Bất như Lôi dữ Trần" 膠漆自謂 堅,不如雷與陳 (Keo sơn tuy dính chặt, Còn kém Lôi với Trần). Sau này dùng để chỉ tình bạn gắn bó.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Tặng Vương nhị thập tứ thị ngự Khế tứ thập vận