27/11/2020 22:05Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Linh Bích đạo bàng quái thạch
靈碧道傍怪石

Tác giả: Lâu Thược - 樓鈅

Thể thơ: Thất ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Nam Tống, Kim
Đăng bởi tôn tiền tử vào 11/10/2018 21:06

 

Nguyên tác

飽聞玆山產奇石,
東南寶之如尺璧。
誰知狼籍亂如麻,
往往崁空類鑱刻。
長安東南萬歲山,
搜抉珍怪窮人間。
汴流一舸載數輩,
徑上艮嶽增孱顏。
當時巧匠斲山骨,
置之江干高突兀。
干戈動地胡塵飛,
坐使奇材成棄物。
君不見:
黃金橫帶號神運,
不數台城拜三品。
只今零落荒草中,
萬古悽涼有遺恨。
木人漂漂不如土,
坐阅興亡知幾許。
行人沉嘆馬不前,
石雖不言恐能語。

Phiên âm

Bão văn tư sơn sản kỳ thạch,
Đông nam bảo chi như xích bích.
Thuỳ tri lang tạ loạn như ma,
Vãng vãng khảm không loại sàm khắc.
Trường An[1] đông nam Vạn Tuế[2] san,
Sưu quyết trân quái cùng nhân gian.
Biện lưu nhất kha tải sổ bối,
Kính thượng Cấn Nhạc tăng sán nhan[3].
Đương thời xảo tượng trác sơn cốt,
Trí chi giang can cao đột ngột.
Can qua[4] động địa Hồ trần phi,
Toạ xử kỳ tài thành khí vật.
Quân bất kiến:
Hoàng kim hoành đái[5] hiệu thần vận[6],
Bất sổ[7] Đài Thành bái tam phẩm.
Chỉ kim kinh lạc hoang thảo trung,
Vạn cổ thê lương hữu di hận.
Mộc nhân[8] phiêu phiêu bất như thổ,
Toạ duyệt hưng vong tri kỷ hử.
Hành nhân trầm thán mã bất tiền,
Thạch tuy bất ngôn khủng năng ngữ[9].

Dịch nghĩa

Từ lâu nghe núi này sinh ra đá lạ
Vùng đông nam quý như thước ngọc bích
Hay đâu lại ngổn ngang như rạ
Tựa như mũi dao khoét đâm lên nền trời
Núi Vạn Tuế ở phía đông nam thành Trường An
Đi vét hết đồ quý lạ gây bao khổ sở cho nhân gian
Trên sông Biện mỗi thuyền lớn chỉ chở được mấy viên
Đến thẳng núi Cấm Nhạc để tăng thêm vẻ gầy
Bấy giờ thợ khéo khoét vào sườn núi
Đặt vào đó cao sừng sững bên bờ ruộng
Gươm giáo làm chuyển đất, bụi Hồ bay
Ngồi chịu để cho của lạ biến thành vật bỏ đi
Bác không thấy:
Đai vàng ngang lưng, được ban hiệu là Thần Vận
Chẳng kể gì đến mấy hòn đá tam phẩm ở Đài Thành
Đến nay cũng lẫn lạc vào cây cỏ
Mang nỗi hận và buồn thương đến muôn đời
Người gỗ trôi dạt không bằng người đất
Ngồi nhìn hưng vong biết bao phen
Khách qua đây trầm lặng, ngựa không buồn bước
Đá tuy không nói, sợ là cũng có lời

Bản dịch của Lê Xuân Khải

Nghe núi này sinh nhiều đá lạ
Vùng Đông Nam quý tựa ngọc vàng
Ngờ đâu như rạ ngổn ngang
Tựa như dao nhọn dựng lưng chừng trời
Đông Nam đô cao vời Cấn Nhạc
Quý lạ gom cùng cực nhân gian
Một kha dòng Biện mấy hòn
Trở đến Vạn Tuế thêm tôn lạ gầy
Đẽo sườn núi những tay thợ giỏi
Dựng núi cao vời vợi bên sông
Bụi hồ gươm giáo đất rung
Ngồi xem của lạ lẫn cùng dại hoang
Bác chẳng thấy đai vàng Thần Vận
Chẳng ngó ngàng tam phẩm thành Đài
Đến nay lẫn giữa cỏ cây
Điêu tàn muôn thủa hận này mãi mang
Người gỗ trôi không bằng người đất
Ngồi ngẫm nhìn được mất đã bao
Ngựa rầu chẳng bước khách sầu
Đá tuy chẳng nói sợ nhiều thấy nghe
Bài này tuyển từ Công Quý tập quyển 1, bản Tứ khố toàn thư. Linh Bích là huyện nay thuộc An Huy. Đất này sinh ra đá khánh. Khoảng năm Chính Hoà, Tống Huy Tông đắp núi đất bên cửa Cảnh Long, Biện Lương, Đông Kinh, gọi là Cấn Nhạc, tìm cây hoa lạ, đá linh bích, thái hồ để đặt vào Cấn Nhạc, gọi là hoa thạch cương. Trên đường Linh Bích tác giả trông thấy đá lạ, liên tưởng đến nỗi đau nước mất nhà tan, quân Kim vào cõi, Biện Kinh bị chiếm đóng, dân chúng lầm than nên viết bài này.

[1] Mượn để chỉ đô thành Biện Kinh.
[2] Tức Cấn Nhạc, đỉnh cao 90 thước, chu vi hơn 10 dặm, chia làm hai ngọn đông và tây, nối liền với Nam Sơn.
[3] Dáng gầy yếu, đá lấy thanh mảnh làm thượng phẩm, ngoài ra cụm từ “sán nhan” còn có ý chê, tác giả tỏ ý kinh miệt.
[4] Năm Tĩnh Khang thứ 2, quân Kim vây Biện Kinh, trăm họ trong thành đói rét, chiếu ra cho dân tuỳ ý chặt đẵn ở Cấn Nhạc, đài tạ cung thất trở thành không, những đá lạ do Huy Tông tìm kiếm trở thành phế vật.
[5] Ví dụ được vua trọng dụng quan cao lộc hậu. Chiến Quốc sách - Tề sách: Lỗ Trọng Liên nói với Điền Đan “Kim tướng quân đông hữu Dạ Ấp chi phụng, tây hữu Tri Thượng chi ngu, hoàng kim hoành đái, nhi trì hồ Tri, Mãnh chi gian” (Nay tướng quân bên đông có Dạ Ấp cung phụng, bên tây có sự yên vui của vùng Dạ Ấp, Tri Thượng, đai vàng thắt ngang lưng, lại rong ruổi ở vùng Tri, Mãnh).
[6] Tống sử - Địa lý chí: Năm Tuyên Hoà thứ 5, Chu Diên lấy đá ở Thái Hồ cao rộng mấy trượng, chở bằng thuyền lớn hàng mấy nghìn phu kéo, đào sông phá cầu cống, đập. Mấy tháng đá mới tới nơi, được ban hiệu Chiêu Công Phu Khánh Thần Vận Thạch. Câu này ý nói Thần Vận Thạch được Huy Tông quý và trọng thị.
[7] Danh sơn ký: Chùa Đồng Thái nằm trong thành Đài, chùa có 4 viên đá lạ tục gọi là tam phẩm thạch. Thành Đài nay ở Nam Kinh. Câu này tiếp ý câu trên là Thần Vận Thạch được quý vượt xa mấy hòn tam phẩm thạch.
[8] Sử ký - Mạnh Thường Quân liệt truyện: Tượng gỗ nói với tượng đất “Trời mưa bác sẽ nát hết”, tượng đất đáp “Ta sinh ra từ đất, nát thì lại về đất; nay trời mưa bác trôi đi, không biết đến đâu là chừng”. Câu này tác giả dùng tượng gỗ chỉ đá lạ, khi đã dời vào đất lạ không thể trở về nơi sinh ra mình.
[9] Cho là đá lạ trải nhiều bể dâu trên đời cảm khái ắt sâu.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Lâu Thược » Linh Bích đạo bàng quái thạch