18/04/2021 09:06Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Bát ai thi kỳ 6 - Thiếu giám vũ công Tô công Nguyên Minh
八哀詩其六-故秘書少監武功蘇公源明

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 27/02/2015 09:29

 

Nguyên tác

武功少也孤,
徒步客徐兗。
讀書東嶽中,
十載考墳典。
時下萊蕪郭,
忍饑浮雲巘。
負米晚為身,
每食臉必泫。
夜字照爇薪,
垢衣生碧蘚。
庶以勤苦志,
報茲劬勞顯。
學蔚醇儒姿,
文包舊史善。
灑落辭幽人,
歸來潛京輦。
射策君東堂,
宗匠集精選。
制可題未幹,
乙科已大闡。
文章日自負,
吏祿亦累踐。
晨趨閶闔內,
足蹋宿昔趼。
一麾出守還,
黃屋朔風卷。
不暇陪八駿,
虜庭悲所遣。
平生滿尊酒,
斷此朋知展。
憂憤病二秋,
有恨石可轉。
肅宗復社稷,
得無逆順辨。
范曄顧其兒,
李斯憶黃犬。
秘書茂松意,
溟漲本末淺。
青熒芙蓉劍,
犀兕豈獨剸。
反為後輩褻,
予實苦懷緬。
煌煌齋房芝,
事絕萬手搴。
垂之俟來者,
正始征勸勉。
不要懸黃金,
胡為投乳贙。
結交三十載,
吾與誰遊衍。
滎陽復冥莫,
罪罟已橫罥。
嗚呼子逝日,
始泰則終蹇。
長安米萬錢,
凋喪盡餘喘。
戰伐何當解,
歸帆阻清沔。
尚纏漳水疾,
永負蒿裏餞。

Phiên âm

Vũ công thiếu dã cô,
Đồ bộ khách Từ[1], Duyện[2].
Độc thư Đông nhạc trung,
Thập tải khảo phần điển.
Thì há lai vu quách,
Nhẫn cơ phù vân nghiễn.
Phụ mễ[3] vãn vi thân,
Mỗi thực kiểm tất huyễn.
Dạ tự chiếu nhiệt tân,
Cấu y sinh bích tiễn.
Thứ dĩ cần khổ chí,
Báo tư cù lao hiển.
Học uý thuần nho tư,
Văn bao cựu sử thiện.
Lệ lạc từ u nhân,
Quy lai tiềm kinh liễn.
Xạ quân đông đường sách[4],
Tông tượng cận tinh tuyển.
Chế khả đề vị can,
Ất khoa[5] dĩ đại xiển.
Văn chương nhật tự phụ,
Lại lộc diệc luỹ tiện.
Thần xu xương hạp nội,
Túc đạp túc tích nghiễn.
Nhất huy xuất thú hoàn,
Hoàng ốc sóc phong quyển.
Bất hạ bồi bát tuấn,
Lỗ đình bi sở khiển.
Bình sinh mãn tôn tửu,
Đoạn thử bằng tri triển.
Ưu phẫn bệnh nhị thu,
Hữu hận thạch khả chuyển.
Túc Tông phục xã tắc,
Đắc vô nghịch thuận biện.
Phạm Việp[6] cố kỳ nhi,
Lý Tư[7] ức hoàng khuyển.
Bí thư mậu tùng ý,
Minh trướng bản mạt thiển.
Thanh huỳnh Phù Dung kiếm[8],
Tê huỷ khởi độc chuyển.
Phản vi hậu bối tiết,
Dư thực khổ hoài miến.
Hoàng hoàng trai phòng chi[9],
Sự tuyệt vạn thủ khiến.
Thuỳ chi sĩ lai giả,
Chính thuỷ trưng khuyến miễn.
Bất yêu huyền hoàng kim,
Hồ vi đầu loạn huyễn.
Kết giao tam thập tải,
Ngô dữ thuỳ du diễn.
Huỳnh Dương[10] phục minh mạc,
Tội cổ dĩ hoành quyến.
Ô hô tử thệ nhật,
Thuỷ thái tắc chung khiển.
Trường An mễ vạn tiền,
Điêu táng tận dư suyễn.
Chiến phạt hà đương giải,
Qui phàm trở thanh Miện[11].
Thượng triền Chương thuỷ[12] tật,
Vĩnh phụ cảo lý tiễn.

Dịch nghĩa

Ông Tô thuở nhỏ đơn độc,
Lội bộ tới trọ nơi Từ Châu và Duyện Châu.
Đọc sách ở trong vùng núi Đông,
Mười năm nghiền ngẫm về kinh điển trong sách.
Ít khi xuống nơi vùng đồng cỏ đông đúc,
Thà chịu nhịn nói trên đỉnh núi mù mây.
Làm việc cực nhọc để tự nuôi mình,
Mỗi bữa ăn nước mắt ròng ròng bên má.
Ban đêm đốt củi để soi sáng mà đọc chữ,
Áo đầy bụi nên mốc meo mọc xanh rì.
Hơn nữa cố gắng học hành,
Cốt báo đáp lại công ơn sinh thành.
Học đã đạt được cái chí khí của nhà nho chính tông,
Về văn thâu tóm được cái tốt lành của sử cũ.
Đang là một nhà văn trầm lặng,
Mà khi trở về lại ngồi trong xe từ kinh đô.
Trúng bài văn sách vua ra nơi nhà phía đông,
Nơi này là nơi đào tạo những tinh hoa được tuyển.
Bài chế ông có thể làm xong khi đề ra chưa ráo mực,
Ất khoa đã được mở rộng ra.
Văn chương ngày càng tự bồi đắp,
Lộc của một viên chức nhà nước cũng làm cản bước chân.
Sáng đi theo vào trong cung cấm,
Chân đạp lên vết chai thời xưa.
Sau hồi đi giữ chức thái thú về,
Gió bấc nổi ở nơi cửa vua.
Chẳng nghĩ gì đến việc khen thưởng người có công,
Thấy buồn vì bị khiển trách liên quan đến trại giặc.
Bình thường rượu lúc nào cũng tràn ly,
Nay bỏ cái này bạn quen biết có gì sảy ra.
Vì lo nghĩ buồn bực mà mang bệnh mất hai năm,
Có mối hận mà đá cũng phải lăn.
Vua Túc Tông khôi phục lại được đất nước,
Có lòng phân biệt kẻ theo, người chống, ai dùng được ai cần bỏ.
Như Phạm Việp mong đợi ở con ông,
Lý Tư nhớ đến con chó vàng.
Ý của quan bí thư như thông xanh,
Biển dâng mà gốc rễ cạn.
Sáng rực là thanh gươm Phù Dung,
Đâu có phải chỉ để dùng giết tê giác.
Làm trái đi khiến cho hậu thể khinh mạn.
Tôi thực là đau buồn cứ nhớ đến điều này.
Rỡ ràng là bữa trai giới nơi Chi phòng.
Việc bế tắc, vạn cánh tay buông xuôi.
Ngưng để chờ người tới,
Chính ra lúc đầu cần phải được khích lệ.
Chẳng cần phải đưa vàng bạc ra theo thưởng,
Làm gì mà phải tung ra cái bọn chó ngao gây rối đó.
Đã ba chục năm nay, tôi với ông kết bạn,
Nay tôi biết cùng ai ngỏ nỗi lòng.
Tin tức nơi Huỳnh Dương cũng chẳng có gì,
Cái lưới tội đã giăng đầy ra đó rồi.
Than ôi cái ngày ông qua đời,
Lúc đầu hanh thông, khi cuối tất lận đận.
Tại Trường An gạo đắt cả vạn đồng,
Đau buồn cho đến hơi thở cuối cùng.
Chiến tranh phải giải quyết như thế nào,
Cánh buồm quay về bị ngăn nơi sông Miện trong xanh.
Lại còn phải gian nan vượt sông Chương,
Cứ luôn luôn bị cỏ rong bên dưới ngăn cản.

Bản dịch của Phạm Doanh

Ông Tô, thuở thiếu thời đơn độc,
Từ, Duyện xa trọ học, có công.
Đọc sách ở tại núi Đông,
Mười năm kinh điển lời thông nghĩa tường.
Ít khi xuống xóm làng nhộn nhạo,
Đỉnh mây trôi cam chịu đói lòng.
Cảnh nghèo cực khổ cố công,
Mỗi khi ăn, má ròng ròng lệ sa.
Đêm đốt củi để mà đọc chữ,
Áo bụi dơ lỗ chỗ mốc lan.
Sau là cố gắng chuyên cần,
Để mong báo đáp công ơn sinh thành.
Học được cái tinh anh nòng cốt,
Văn thu gồm cái tốt sử xưa.
Khách văn từ chốn quê mùa,
Khi về lại đã xe vua ngồi rồi.
Nơi nhà đông trả lời vua đúng,
Nơi đây những ông cống tập trung.
Đề còn ướt mực, chế xong,
Bảng ất khoa đã được trưng lên rồi.
Văn chương ngày trau dồi, càng tiến,
Lộc quan cũng ngăn cản bước chân.
Sớm vào chầu, theo các quan,
Chân đạp lên cái vết hằn thời xưa.
Trở về kinh, trương cờ thái thú,
Tại cung vua gió dữ nổi lên
Đã không bồi dưỡng người hiền,
Buồn vì khiển trách liên quan trại tù.
Thông thường rượu lu bù luôn chén,
Bè bạn hay bỏ hẳn cái này.
Hai năm buồn bực bệnh hoài,
Giận kia khiến đá cũng đòi lăn đi.
Túc Tông kể từ khi khôi phục,
Lại lấy điều mất, được, còn, không.
Phạm Việp con vẫn còn mong,
Lý Tư mơ mãi chó vàng đi săn.
Quan bí thư ý gần thông tốt,
Nước biển dâng tới gốc ngọn nông.
Sáng loáng thanh kiếm Phù dung,
Chẳng riêng trâu nước mới dùng để băm.
Khiến hậu bối lòng đâm khinh rẻ,
Làm tôi đây cứ phải nhớ hoài.
Rõ ràng bài hát thọ trai,
Bế tắc vạn cái bàn tay co về.
Ngưng để chờ người đi kế đó,
Đúng ra là phải cố động viên,
Chẳng cần treo giải bạc tiền,
Sao phải gây loạn cái đoàn chó ngao.
Ba chục năm bạn bầu gắn bó,
Nay lấy ai tôi tỏ nỗi niềm.
Huỳnh Dương cũng chẳng có tin,
Lưới tội thôi đã giăng dàn khơi khơi.
Than ôi, ông đi rồi, ngày mất,
Đầu hanh thông, cuối tất long đong
Trường An gạo đắt ngàn đồng,
Hơi thừa cho đến tận cùng thương đau.
Làm cách nào đương đầu cuộc chiến,
Buồm quay về sông Miện ngăn dòng.
Lại còn khó vượt sông Chương,
Luôn bị cụm cỏ ngăn đường dưới sông.
(Năm 766)

Lời tự: “Thương thì loạn tặc vị tức. Hứng khởi Vương công, Lý công. Thán cựu hoài hiền, chung ư Trương tướng quốc, bát công tiền hậu tồn một, toại bất thuyên thứ yên.” 傷時盜賊未息。興起王公、李公。歎舊懷賢。終於張相國。八公前後存歿。遂不詮次焉。 (Gặp lúc gian nan, loạn lạc chưa dứt. Hứng lên bắt đầu với ông Vương Tư Lễ, ông Lý Công Bật. Than cái xưa, nhớ người hiền, cuối cùng là quan tướng quốc Trương Cửu Linh. Tám ông trước sau kẻ còn người mất, đều không theo thứ tự vậy.)

[1] Một trong chín châu thời xưa của Trung Quốc, nay thuộc các tỉnh Giang Tô, Sơn Đông, An Huy.
[2] Một trong chín châu thời xưa, nay thuộc các tỉnh Sơn Đông, Hà Bắc.
[3] Do chữ “Tử Lộ phụ mễ” 子路負米. Tử Lộ, một học trò giỏi của Khổng Tử, con nhà nghèo thường đi làm công lấy tấm với cám về để nuôi cha mẹ. Trong trường hợp Tô nguyên Minh vì mồ côi sớm, nên làm lụng vất vả để kiếm sống, nhưng ông chăm chỉ học hành.
[4] Tích Tấn Vũ Đế tụ tập các thí sinh nơi nhà phía đông để ra bài văn sách cho họ đối đáp.
[5] Bài kinh sách trả lời hoàn toàn các đề thì nêu ở bảng Giáp khoa, nếu làm được bốn đề thi thì được lưu ở bảng Ất khoa.
[6] Phạm Việp (398-445) tự Uý Tông 蔚宗, người Thuận Dương nước Tống đời Nam triều, có tài viết văn, thư pháp theo lối lệ, rành âm luật. Lúc đầu giữ chức thượng thư lại bộ lang, sau bị đổi đi giữ chức thái thú Tuyên Thành, trở thành người bất đắc chí. Sau có cùng với người nước Lỗ là Khổng Hy Tiên 孔熙先 mưu nổi loạn và bị giết. Viết Hậu Hán thư 後漢書 là một trong bốn bộ sử của Trung Quốc thời cổ.
[7] Thừa tướng đời Tần. Lý Tư trối lại với con cháu trước khi bị Tần Nhị Thế giết là mong cùng con cháu giắt chó vàng đi săn.
[8] Tức là thanh gươm Thuần Quân. Thời Xuân Thu, Việt vương Câu Tiễn thường tự hào có 5 thanh gươm quý: Trạm Lô 湛盧, Thuần Quân 純钧, Thắng Tà 勝邪, Ngư Trường 魚腸, Cự Khuyết 巨闕. Người khách từ Tần là Tiết Chúc 薛燭 vốn là người rành coi kiếm. Ông chỉ công nhận có một cái kiếm quý là Thuần Quân khi được ra cho ông coi.
[9] Hán Vũ Đế có bài ca Chi phòng, lúc đó tể tướng Vương Dự viện dẫn nó để cầu chúc, cốt nịnh bợ vua. Nguyên Minh có lời nói sẵng.
[10] Nơi Trịnh Kiền, người bạn chung của Đỗ Phủ và Tô Nguyên Minh, đang ở.
[11] Sông thuộc tỉnh Thiểm Tây, huyện Miện, là thượng lưu của Hán Thuỷ.
[12] Đầu nguồn có hai tên Thanh Chương 清漳 và Trọc Chương 濁漳, đều phát nguyên từ tỉnh Sơn Tây, chảy tới tỉnh Hà Nam.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Bát ai thi kỳ 6 - Thiếu giám vũ công Tô công Nguyên Minh