07/07/2020 11:37Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Tự kinh phó Phụng Tiên huyện vịnh hoài ngũ bách tự
自京赴奉先縣詠懷五百字

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 26/10/2005 02:46

 

Nguyên tác

杜陵有布衣,
老大意轉拙。
許身一何愚?
竊比稷與契。
居然成獲落,
白手甘契闊。
蓋棺事則已,
此誌常覬豁。
窮年憂黎元,
嘆息腸內熱。
取笑同學翁,
浩歌彌激烈。
非無江海誌,
蕭灑送日月。
生逢堯舜君,
不忍便永訣。
當今廊廟具,
構廈豈雲缺?
葵藿傾太陽,
物性固莫奪。
顧惟螻蟻輩,
但自求其穴。
胡為慕大鯨,
輒擬偃溟渤?
以茲誤生理,
獨恥事干謁。
兀兀遂至今,
忍為塵埃沒。
終愧巢與由,
未能易其節。
沉飲聊自遣,
放歌破愁絕。
歲暮百草零,
疾風高岡裂。
天衢陰崢嶸,
客子中夜發。
霜嚴衣帶斷,
指直不得結。
凌晨過驪山,
御榻在嵽嵲。
蚩尤塞寒空,
蹴蹋崖谷滑。
瑤池氣鬱律,
羽林相摩戛。
君臣留歡娛,
樂動殷膠葛。
賜浴皆長纓,
與宴非短褐。
彤庭所分帛,
本自寒女出。
鞭撻其夫家,
聚斂貢城闕。
聖人筐篚恩,
實欲邦國活。
臣如忽至理。
君豈棄此物?
多士盈朝廷,
仁者宜戰栗。
況聞內金盤,
盡在衛霍室。
中堂有神仙,
煙霧蒙玉質。
暖客貂鼠裘,
悲管逐清瑟。
勸客駝蹄羹,
霜橙壓香橘。
朱門酒肉臭,
路有凍死骨。
榮枯咫尺異,
惆悵難再述。
北轅就涇渭,
官渡又改轍。
群水從西下,
極目高崒兀。
疑是崆峒來,
恐觸天柱折。
河梁幸未坼,
枝撐聲窸窣。
行旅相攀援,
川廣不可越。
老妻寄異縣,
十口隔風雪。
誰能久不顧?
庶往共饑渴。
入門聞號啕,
幼子餓已卒。
吾寧舍一哀?
裡巷亦嗚咽。
所愧為人父,
無食致夭折。
豈知秋禾登,
貧窶有蒼卒。
生常免租稅,
名不隸徵伐。
撫跡猶酸辛,
平人固騷屑。
默思失業徒,
因念遠戍卒。
憂端齊終南,
澒洞不可掇。

Phiên âm

Đỗ Lăng[1] hữu bố y,
Lão đại ý chuyển chuyết;
Hứa thân nhất hà ngu,
Thiết tỉ Tắc[2] dữ Tiết[3]!
Cư nhiên thành hoạch lạc,
Bạch thủ cam khế khoát.
Cái quan sự tắc dĩ,
Thử chí thường ký khoát.
Cùng niên ưu lê nguyên,
Thán tức trường nội nhiệt.
Thủ tiếu đồng học ông,
Hạo ca di kích liệt.
Phi vô giang hải chí,
Tiêu sái tống nhật nguyệt.
Sinh phùng Nghiêu Thuấn quân,
Bất nhẫn tiên vĩnh quyết.
Đương kim lang miếu cụ.
Cấu hạ khởi vân khuyết.
Quỳ hoắc khuynh thái dương,
Vật tính cố nan đoạt.
Cố duy lũ nghị bối,
Đản tự cầu kỳ huyệt.
Hồ vi mộ đại kình,
Triếp nghĩ yển minh bột?
Dĩ tư ngộ sinh lý,
Độc sỉ sự can yết.
Ngột ngột toại chí kim.
Nhẫn vi trần ai một?
Chung quý Sào dữ Do[4].
Vị năng dịch kỳ tiết!
Trầm ẩm liêu tự thích,
Phóng ca phả sầu tuyệt.
Tuế mộ bách thảo linh,
Tật phong cao cương liệt.
Thiên cù âm tranh vanh,
Khách tử trung dạ phát.
Sương nghiêm y đái đoạn.
Chỉ trực bất năng kết.
Lăng thần quá Ly sơn,
Ngự tháp tại đái niết.
Xuy vưu tắc hàn không.
Xúc đạp nhai cốc hoạt.
Dao Trì khí uất luật.
Vũ lâm tương ma kết.
Quân thần lưu hoan ngu,
Nhạc động ân dao cát.
Tứ dục giai trường anh,
Dữ yến phi đoản hạt,
Đồng đình sở phân bạch,
Bản tự hàn nữ xuất.
Tiên thát kỳ phu gia,
Tụ liễm cống thành khuyết.
Thánh nhân khuông phỉ ân,
Thực dục bang quốc hoạt.
Thần như hốt chí lý,
Quân khởi khí thử vật?
Đa sĩ doanh triều đình,
Nhân giả nghi chiến lật?
Huống văn nội kim bàn
Tận tại Vệ, Hoắc[5] thất.
Trung đường hữu thần tiên,
Yên vụ mông ngọc chất.
Noãn khánh điêu thử cừu.
Bi quản trục thanh sắt.
Khuyến khách đả đế canh,
Sương tranh áp hương quất.
Chu môn tửu nhục xú,
Lộ hữu đống tử cốt;
Vinh khô chỉ xích dị,
Trù trướng nan tái thuật!
Bắc viện tựu Kinh, Vị.
Quan độ hựu cải triệt.
Quần thuỷ tòng tây há,
Cực mục cao thốt ngột.
Nghi thị Không Đồng lại,
Khủng xúc thiên trụ chiết.
Hà Lương hạnh vị sách,
Chi sanh thanh tất tốt.
Hành lữ tương phan viên,
Xuyên quảng bất khả việt.
Lão thê ký dị huyện,
Thập khẩu cách phong tuyết.
Thuỷ năng cửu bất cố?
Thứ vãng công cơ khát.
Nhập môn văn hào đào,
Ấu tử cơ dĩ tốt!
Ngô ninh xả nhất ai,
Lý hạng diệc ô yết.
Sở quý vi nhân phụ,
Vô thực tri yểu chiết!
Khởi tri thu hoà đăng,
Bần lũ hữu thảng thốt.
Bình thường miễn tô thuế,
Danh bất lệ chinh phạt,
Phủ tích do toan tân,
Bình nhân cố tao tiết.
Mặc tư thất nghiệp đồ,
Nhân niệm viễn thú tốt.
Ưu đoan tề Chung Nam,
Hạng động bất khả xuyết.

Dịch nghĩa

Có người áo vải ở Đỗ Lăng,
Tuổi đã già ý nghĩ trở nên vụng về.
Chí lập thân sao ngu dại đến thế!
Thầm tự ví mình với Tắc Tiết.
Kết cục lại thành sự hão huyền,
Đầu bạc rồi đành chịu kiếp long đong;
Đậy nắp quan tài mới hết chuyện!
Chữ chí ấy vẫn còn ôm ấp mãi.
Suốt năm những lo người dân đen,
Than thở đến sốt ruột bồn chồn.
Các ông bạn cùng học chê cười,
[Mình thì] hát vang lòng thêm sôi nổi.
Chẳng phải là không có chí ngao du bốn bể,
Vui chơi cho qua ngày tháng;
Nhưng vì sinh gặp thời Nghiêu Thuấn.
Nên không nỡ dứt bỏ mà đi!
Hiện nay, những thứ bày nơi lăng miếu,
Thiếu gì gỗ lớn để làm nhà to.
Nhưng quỳ và hoắc vốn hướng về mặt trời,
Bản tính của vật vững chắc khó thay đổi.
Hãy xem đám sâu kiến,
Biết tự tìm về hang ổ của chúng.
Sao ta chọn con cá kình lớn,
Toan vẫy vùng ngoài khơi bao la?
Lấy đó mà nhận thức được lẽ sống,
Riêng hổ thẹn vì việc nhờ vả người..
Ngất ngưỡng cho đến nay,
Há đành vùi trong cát bụi!
Rốt cuộc ngượng với Sào Do,
Vì chưa thể đổi thay khí tiết.
Uống thật say mới thoả thích,
Hát vang lên cho nguôi sầu.
Cuối năm, trăm loài cỏ tàn úa,
Gió mạnh sụt lở gò cao.
Vòm trời u ám lồng lộng,
Khách lên đường giữa đêm khuya,
Sương giá buốt, giải áo đứt tung,
Ngón tay tê cóng không thể buộc lại được.
Sớm tinh mơ đi qua Ly Sơn,
Giường vua đặt nơi cao ngất.
Hơi khói rực rỡ đầy cả trời lạnh,
Đạp xéo lên mỏm đá cửa hang trơn như mỡ.
Ở cung Dao Trì không khí nồng nã,
Quân Vũ Lâm gươm giáo loảng xoảng.
Vua tôi cùng họp nhau vui chơi,
Tiếng đàn sáo vang lên rộn rã.
Được vua cho tắm toàn là [quan to] giải mũ dài,
Được dự tiệc chẳng phải [người nghèo] áo ngắn.
Lụa đem phân phát trước sân rồng,
Là do những gái nghèo dệt ra.
Roi vọt đổ lên đầu chồng họ,
Để vét của dân vào kinh đô!
Ơn ban giỏ lẳng của vua,
Thật là muốn cho đất nước thịnh vượng.
Kẻ làm tôi mà quên mất lẽ đó,
Hoá ra vua đã phí bỏ những vật kia.
Bậc sĩ phu đầy dẫy cả triều đình,
Người nhân nên lấy làm răn sợ.
Lại nghe những mâm vàng trong cung,
Đều chuyển ra hết nhà họ Vệ họ Hoắc.
Trong nhà họ có thần tiên,
Khói sương lồng vẽ ngọc.
Áo cừu lông điêu ủ ẩm khách,
Tiếng sáo buồn nối tiếp tiếng đàn sắt trong trẻo,
Mời khách món canh chân lạc đà.
Nước chanh thơm ngát lẫn nước quýt.
Nơi cửa son rượu thịt ê hề,
Ngoài đường cái có xương người chết rét.
Sướng và khổ chỉ trong tấc gang,
Lòng ngậm ngùi khó nói lên lời!
Xe lên bắc sông Kinh sông Vị,
Qua đò quan, lại rẽ hướng khác.
Sông nước trùng trùng từ tây đổ xuống,
Ngoài tầm mắt toàn núi cao chót vót.
Những tưởng từ Không Đồng tới,
E va chạm gãy cả cột trời.
Cầu sông nay vẫn chưa đổ,
Rầm cột lay động kêu ken két.
Người đi đường bíu lấy nhau,
Sông mênh mông không thể vượt qua.
Vợ già gửi nhờ ở huyện khác,
Mười miệng cách vời gió tuyết.
Ai nỡ lâu ngày không đoái hoài,
Thà đói khát mà về với nhau...
Vào cửa nghe tiếng gào khóc;
Đứa con nhỏ đã chết rồi!
Ta sao khỏi xót thương,
Người hàng xóm cũng cảm động nghẹn ngào.
Luống thẹn mình bổn phận làm cha,
Mà không nuôi nổi để con chết non.
Há biết vụ lúa thu đã chín,
Thế mà cái nghèo làm nẩy tai hoạ tức thì!
Đời mình thường được miễn tô thuế,
Tên mình khỏi ghi trong sổ lính.
Thế mà còn phải chịu nổi đắng cay,
Huống chi dân thường ắt nhiều khốn đốn.
Thầm nghĩ đến những người thất nghiệp,
Lại tưởng đến lính tráng nơi xa xôi.
Mối lo âu chồng chất như núi Chung Nam,
Man mác biết làm sao yên lòng!...

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Chàng áo vải Đỗ Lăng,
Tuổi già đâm nghếch ngác.
Ngu sao cứ đem mình,
Sánh thầm với Tắc, Khiết.
Té ra thành rỗng không,
Bạc đầu cam lật đật.
Chưa đậy nắp quan tài,
Chí này còn muốn đạt.
Quanh năm lo vì dân,
Thở than thêm sốt ruột.
Bạn học mỉa mai cười,
Ca vang càng hăng tiết.
Há không chí giang hồ,
Tiêu dao ngày tháng suốt.
Sinh gặp vua Thuấn, Nghiêu,
Nỡ nào đành bỏ đứt!
Hiện nay để dựng nhà,
Đâu thiếu gì rường cột?
Hoa quỳ cứ hướng dương,
Tính trời ai cải được.
Đoái nhìn bè lũ kiến,
Miễn tìm được hang hốc.
Lọ phải học cá kình,
Biển xanh đòi khuấy chọc?
Lẽ sống ờ là thế,
Riêng hổ điều chạy chọt!
Cùi cụi cho đến nay,
Chịu vùi trong bụi tục.
Luống thẹn với Sào Do,
Ẩn mình không đổi tiết.
Chén chàn để làm khuây,
Hát lên đuổi sầu tuốt.
Năm cuối cỏ cây tàn,
Gió táp gò cao nứt.
Đường trời bóng tối om,
Nửa đêm mình cất bước.
Sương nặng dải áo đứt,
Tay cóng không thể buộc.
Rạng ngày qua Ly Sơn,
Sạp ngự trên chót vót.
Cờ xí rợp trời dăng,
Lũng đồi đạp tuyết trượt.
Suối ấm khí ùn ùn,
Quân hầu đông nghịt nghịt.
Vua tôi mải mê chơi,
Vui nhộn ầm trời đất.
Được tắm toàn mũ dài,
Dự tiệc nào áo cộc.
Vóc lụa thềm son chia,
So gái nghèo chịu nhọc.
Roi vụt nhà cùng đinh,
Tom góp dâng bệ ngọc.
Nhà vua đem ban ra,
Mong lợi dân ích nước.
Tôi mà không thấu lẽ,
Vua dễ hoài mưa móc?
Các quan đầy triều đình,
Người biết phải nơm nớp.
Huống nghe vàng trong kho,
Về nhà Vệ, Hoắc tất.
Giữa nhà múa thần tiên,
Khói mây lồng mặt ngọc.
Ấm khách áo điêu thử,
Não nùng đàn sáo rót.
Mời khách canh dận đà,
Chanh thơm đè quít ngọt.
Cửa son rượu thịt ôi,
Ngoài đường xương chết buốt.
Tươi héo chỉ tấc gang,
Nhắc lại càng chua xót.
Xe đến sông Kinh, Vị,
Qua đò, quay hướng khác.
Nước lũ xuống từ tây,
Hút mắt nhìn cao vút.
Ngỡ tự Không Đồng về,
E cột trời gãy đứt.
Cầu sông may chửa phá,
Cây chống kêu oằn oặt.
Người qua vịn bâu nhau,
Sông rộng khó lòng vượt.
Vợ già náu huyện xa,
Mười miệng cách gió tuyết.
Ai nỡ làm ngơ hoài,
Mong về chung đói khát.
Vào cửa nghe kêu gào,
Con thơ đói vừa mất.
Ta đâu khỏi đau lòng,
Hàng xóm cũng nghẹn nấc.
Làm cha chẳng đáng cha,
Không cơm bỏ trẻ thác.
Ngờ đâu năm được mùa,
Lũ nghèo cứ chịu chết.
Cả đời khỏi tô thuế,
Sổ lính tên không liệt.
Thế mà vẫn chua cay,
Người thường khổ bao xiết.
Nghĩ người lính thú xa,
Nhớ những người thất nghiệp.
Mối lo tày non Chung,
Gỡ lại càng rối rít.
(Năm 755)

Đây là bài thơ tổng kết mười năm Đỗ Phủ ăn nhờ ở đậu tại Trường An (746-755). Trong mười năm đó, Đỗ Phủ đã tận mắt chứng kiến sự xa hoa thối nát của giai cấp phong kiến thống trị: “Cửa son rượu thịt ôi, Ngoài đường người chết đói”. Năm trăm chữ độc vận, lại là trắc vận, nhưng không hề khô cứng, nhàm chán mà vẫn rất gợi cảm, khiến người đọc như thấy được sự trắc trở, mệt mỏi và cay đắng của ông. Xoay quanh nhân vật chủ thể là ông, các sự kiện, các nhân vật khác đều được thể hiện sinh động, miêu tả tỉ mỉ và cụ thể. Bài thơ đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong tư tưởng và trong thơ ca của Đỗ Phủ. Nó chứng tỏ ông đã thành thục cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật. Và tư tưởng cũng như bút pháp “Chu môn tửu nhục xú, Lộ hữu đống tử cốt” ấy đã theo ông suốt cuộc đời mình...

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, Hoàng Trung Thông, NXB Văn học, 1962
[1] Địa danh thuộc Trường An, thời Hán mang tên là Đỗ huyện, sau lập lăng vua ở nơi đó nên đổi tên thành Đỗ Lăng.
[2] Tổ nhà Chu, được đế Nghiêu cho làm nông sư dạy dân chúng nghề làm ruộng.
[3] Bề tôi vua Nghiêu Thuấn, lập ra nhà Thương.
[4] Sào Phủ và Hứa Do.
[5] Vệ Thanh 衛青, tự Trọng Khanh, người Sơn Tây, là một tướng tài đời Hán Vũ Đế, có công dẹp Hung Nô, được phong Trường bình hầu; và Hoắc Khứ Bệnh 霍去病, tướng tài đời Hán. Đỗ Phủ dùng hai họ Vệ, Hoắc để ám chỉ Dương Quốc Trung, tức là liên hệ ngoại thích của nhà vua Đường, y hệt hai họ Vệ và Hoắc đối với vua Hán. Nhưng về công trạng đối với đất nước thì hoàn toàn khác nhau.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Tự kinh phó Phụng Tiên huyện vịnh hoài ngũ bách tự