18/09/2020 16:10Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Phóng cuồng ngâm
放狂吟

Tác giả: Tuệ Trung thượng sĩ - 慧中上士

Thể thơ: Cổ phong (cổ thể); Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Trần
Đăng bởi Vanachi vào 29/09/2008 08:29

 

Nguyên tác

天地眺望兮何茫茫,
杖策懮遊兮方外方。
或高高兮雲之山,
或深深兮水之洋。
饑則餐兮和羅飯,
困則眠兮何有鄉。
興時吹兮無孔笛,
靜處焚兮解脫香。
倦小憩兮歡喜地,
渴飽啜兮逍遙湯。
溈山作鄰兮牧水牯,
謝三同舟兮歌滄浪。
訪曹溪兮揖盧氏,
謁石頭兮儕老龐。
樂吾樂兮布袋樂,
狂吾狂兮普化狂。
咄咄浮雲兮富貴,
吁吁過隙兮年光。
胡為兮官途險阻,
叵耐兮世態炎涼。
深則厲兮淺則揭,
用則行兮捨則藏。
放四大兮莫把捉,
了一生兮休奔忙。
適我願兮得我所,
生死相逼兮於我何妨。

Phiên âm

Thiên địa diểu vọng hề hà mang mang,
Trượng sách ưu du hề phương ngoại phương.
Hoặc cao cao hề vân chi sơn,
Hoặc thâm thâm hề thuỷ chi dương.
Cơ tắc xan hề hoà-la phạn,
Khốn tắc miên hề hà hữu hương.
Hứng thì xuy hề vô khổng địch,
Tĩnh xứ phần hề giải thoát hương.
Quyện tiểu khế hề hoan hỉ địa,
Khát bão xuyết hề tiêu dao thang.
Quy Sơn tác lân hề mục thuỷ cổ,
Tạ Tam đồng chu hề ca “Thương lương”.
Phỏng Tào Khê hề ấp Lư thị,
Yết Thạch Đầu hề sài Lão Bàng.
Lạc ngô lạc hề Bố Đại lạc,
Cuồng ngô cuồng hề Phổ Hoá cuồng.
Đốt đốt phù vân hề phú quý,
Hu hu quá khích hề niên quang.
Hồ vi hề quan đồ hiểm trở,
Phả nại hề thế thái viêm lương.
Thâm tắc lệ hề thiển tắc yết,
Dụng tắc hành hề xả tắc tàng.
Phóng tứ đại hề mạc bả tróc,
Liễu nhất sinh hề hưu bôn mang.
Thích ngã nguyện hề đắc ngã sở,
Sinh tử tương bức hề ư ngã hà phương.

Dịch nghĩa

Ngắm trông trời đất sao mà mênh mông,
Chống gậy nhởn nhơ ngoài thế gian.
Hoặc đến chỗ núi mây cao cao,
Hoặc đến chỗ biến nước sâu sâu.
Đói thì ăn cơm hoà-la,
Mệt thì ngủ làng “không có làng”.
Khi hứng thì thổi sáo không lỗ,
Nơi yên tĩnh thì thắp hương giải thoát.
Mệt thì nghỉ tạm ở đất hoan hỉ,
Khát thì uống no thang tiêu dao.
Láng giềng với Quy Sơn đi chăn trâu nước,
Cùng thuyền với Tạ Tam hát khúc “Thương lương”.
Hỏi thăm đến suối Tào Khê vái chào Lư thị,
Yết kiến Thạch Đầu sánh cùng lão Bàng.
Vui niềm vui của ta niềm vui Bố Đại,
Cuồng cái cuồng của ta, cái cuông Phổ Hoá.
Chà chà! Cảnh giàu sang như mây nổi,
Ôi chao! Thời gian thấm thoắt như bóng ngựa qua kẽ vách.
Con đường làm quan sao mà hiểm trở đến thế!
Thói đời nóng lạnh ta hãy tạm quen.
Sâu thì dấn mà nông thì vén,
Dùng thì làm mà bỏ thì cất đi.
Buông lỏng tứ đại đừng có bó buộc,
Xong một đời rồi, không chạy chọt đó đây.
Thoả ý muốn của ta và được đúng chỗ của ta,
Sống, chết dồn ép, ta có ngại gì đâu!

Bản dịch của Huệ Chi, Đỗ Văn Hỷ

Trời đất liếc trông chừ, sao mênh mang!
Chống gậy nhởn nhơ chừ, phương ngoài phương.
Hoặc cao cao chừ, mây đỉnh núi,
Hoặc sâu sâu chừ, nước trùng dương.
Đói thì ăn chừ, cơm tuỳ ý,
Mệt thì ngủ chừ, làng không làng!
Hứng lên chừ, thổi sáo không lỗ,
Lắng xuống chừ, đốt giải thoát hương!
Mỏi nghỉ tạm chừ, đất hoan hỉ,
Khát uống no chừ, nước thênh thang.
Láng giềng cùng Quy Sơn chừ, chăn con trâu nước.
Cùng thuyền với Tạ Tam chừ, hát khúc “Thương lương”.
Thăm Tào Khê chừ, vái chào Lư thị,
Viếng Thạch Đầu chừ, sánh vai lão Bàng.
Vui cái ta vui chừ, Bố Đại vui,
Cuồng cái ta cuồng chừ, Phổ Hoá cuồng!
Ối ối! Giàu sang chừ, lưng trời mây nổi,
Chà chà! Năm tháng chừ, bóng ngựa lướt ngang!
Nói sao chừ, chông gai bể hoạn,
Tạm quen chừ, ấm lạnh thói thường!
Sâu thì dấn chừ, nông thì xắn vén,
Dùng thì làm chừ, bỏ thì ẩn tàng.
Buông hình hài chừ, đèng nắm bắt,
Tỉnh một đời chừ, chớ chạy quàng.
Thoả ước nguyền ta chừ, được nơi ta muốn,
Sống chết thôi thúc chừ, lòng ta coi thường.
Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập II), NXB Khoa học xã hội, 1988

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Tuệ Trung thượng sĩ » Phóng cuồng ngâm