27/10/2020 08:15Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Thuật hoài kỳ 5
述懷其五

Tác giả: Nguyễn Xuân Ôn - 阮春溫

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Nguyễn
Đăng bởi hongha83 vào 09/06/2016 20:41

 

Nguyên tác

未做卿夫辱已多,
功名遲暮老來何。
鰲戎謾講西邊好,
鯤黨甘論北地和。
防禦六軍糜月廩,
詢咨三使屈星槎。
夜來憶起聞雞事,
頻把干將向月磨。

Phiên âm

Vị tố khanh phu nhục dĩ đa,
Công danh trì mộ lão lai hà.
Ngao nhung mạn giảng tây biên hảo,
Côn đảng[1] cam luân bắc địa hoà.
Phòng ngự lục quân my nguyệt lẫm,
Tuân tư tam sứ khuất tinh tra.
Dạ lai ức khởi văn kê sự,
Tần bả Can Tương hướng nguyệt ma[2].

Dịch nghĩa

Chưa làm quan khanh, quan đại phu mà nhục đã nhiều
Công danh chậm muộn, già đến nơi biết làm thế nào
Phương Tây thì giảng hoà với bọn Pháp
Đất Bắc lại điều đình với bè đảng Ngô Côn
Sáu quân phòng giữ đã hao nhiều lương tháng
Các sứ thần thuyền bè giao thiệp cũng chỉ nhục mình
Đêm đến nhớ tới việc người xưa nghe gà gáy dậy múa gươm
Luôn luôn đem gươm báu mài dưới trăng

Bản dịch của Nguyễn Đức Vân, Hà Văn Đại

Chưa phải khanh phu nhục đã nhiều,
Công danh chậm muộn nữa già sao.
Phía tây thương lượng cùng quân Pháp,
Phương bắc hoà thân với giặc Tàu.
Phòng ngự sáu quân hao bạc tháng,
Hỏi han ba sứ nhục bè sao.
Đêm trường nhớ chuyện nghe gà gáy,
Mài mãi gươm thần bóng nguyệt cao.
Nguồn: Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn (in lần thứ hai), NXB Văn học, 1977
[1] Đảng của Ngô Côn, một dư đảng của Thái Bình Thiên Quốc bên Trung Quốcm tràn sang Bắc Kỳ.
[2] Lưu Côn đời Tấn có chí đánh giặc, đêm nằm gối giáo nghe gà gáy dậy múa gươm. Ý nói sốt sắng việc đánh giặc. Can Tương là tên người thợ rèn kiếm báu ở đất Ngô thời Xuân Thu, cũng là tên loại kiếm báu mà người thợ này chế tạo, sau dùng chỉ thanh kiếm báu.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Xuân Ôn » Thuật hoài kỳ 5