13/08/2020 05:59Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Nhâm Thìn hàn thực
壬辰寒食

Tác giả: Vương An Thạch - 王安石

Thể thơ: Ngũ ngôn bát cú; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Bắc Tống, Liêu
Đăng bởi hongha83 vào 28/06/2015 08:41

 

Nguyên tác

客思似楊柳,
春風千萬條。
更傾寒食淚,
欲漲冶城潮。
巾發雪爭出,
鏡顏朱早凋。
未知軒冕樂,
但欲老漁樵。

Phiên âm

Khách tứ tự dương liễu,
Xuân phong thiên vạn điều,
Cánh khuynh hàn thực lệ,
Dục trướng Dã Thành[1] triều.
Cân phát tuyết tranh xuất,
Kính nhan chu tảo điêu.
Vị tri hiên miện[2] nhạc,
Đãn dục lão ngư tiều.

Dịch nghĩa

Lòng khách rối như tơ liễu,
Muôn mành bay trước gió xuân.
Lại thêm dàn dụa nước mắt tiết hàn thực,
Muốn dâng cao ngọn triều Dã Thành.
Trong khăn tóc trắng đua nhau mọc,
Trước guơng mặt hồng hào chóng tàn.
Chưa biết thú vui của xe mũ,
Chỉ muốn già với ngư tiều.

Bản dịch của Lê Xuân Khải

Duơng liễu xuân lòng khách
Mành bay nghìn vạn chiều
Lệ hàn thực lặng nhỏ
Triều Dã Thành dâng kiêu (cao)
Khăn tóc tuyết đua mọc
Guơng hình vàng võ nhiều
Mũ xe vui chửa biết
Chỉ muốn già ngư tiều
Bài này tuyển từ Lâm Xuyên Vuơng tiên sinh Kinh công văn tập quyển 72 bản Gia Tĩnh đời Minh. Thân phụ của Vuơng An Thạch là Vuơng Ích từng làm Thông phán phủ Giang Ninh (nay là thành phố Nam Kinh). Năm Bảo Nguyên thứ 2, ông mất ở quan sở, mộ để núi Ngưu Thủ, Giang Ninh. Bài này, tác giả làm vào năm Hoàng Hựu thứ 4, khi thăm mộ vào tiết hàn thực, thơ với lời rất tinh luyện, sinh động, giàu hình tượng. Cao Bộ Doanh bình bài thơ này "Phong thái cao, thế bút trong sáng hùng hồn, riêng của Kinh công".

Nguồn: Trung Hoa cổ thi tinh tuyển (thơ các đời Tống, Liêu, Kim, Nguyên, Minh, Thanh), Lê Xuân Khải dịch và chú giải, NXB Giáo dục, 2014
[1] Nơi luyện kim của nước Ngô thời Tam Quốc nên có tên (Dã là rèn đúc). Dấu cũ gần cung Triều Thiên thành phố Nam Kinh ngày nay.
[2] Xe và mũ, chỉ quan lộc tước vị.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Vương An Thạch » Nhâm Thìn hàn thực