19/10/2019 01:06Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Hoài tưởng
懷想

Tác giả: Đặng Trần Côn - 鄧陳琨

Thể thơ: Cổ phong (cổ thể); Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 20/02/2006 17:04

 

Nguyên tác

勞與閒誰與言
君在天涯妾倚門
倚門固妾今生分
天涯豈君平生魂
自信相隨魚水伴
那堪相隔水雲村
妾身不想為征婦
君身豈學為王孫
何事江南與江北
令人愁曉更愁昏
一個是風流少年客
一個是深閨少年婚
可堪兩年少
千里各寒暄
憶昔與君相別時
柳條猶未囀黃鸝
問君何日歸
君約杜鵑啼
杜鵑已逐黃鸝老
青柳樓前語鷾鴯
憶昔與君相別中
雪梅猶未識東風
問君何日歸
君指桃花紅
桃花已伴東風去
老梅江上又芙蓉
與我約何所
乃約隴西岑
日中兮不來
墜葉兜我簪
竚立空涕泣
荒邨喧午禽
與我約何所
乃約漢陽橋
日晚兮不來
谷風吹我袍
竚立空涕泣
寒江起暮潮
昔年寄信勸君回
今年寄信勸君來
信來人未來
楊花零落委蒼苔
蒼苔蒼苔又蒼苔
一步閒庭百感催
昔年回書訂妾期
今年回書訂妾歸
書歸人未歸
紗窗寂寞轉斜暉
斜暉斜暉又斜暉
十約佳期九度違

Phiên âm

Lao dữ nhàn thuỳ dữ ngôn
Quân tại thiên nhai, thiếp ỷ môn
Ỷ môn cố thiếp kim sinh phận
125. Thiên nhai khởi quân bình sinh hồn
Tự tín tương tuỳ ngư thuỷ bạn
Na kham tương cách thuỷ vân thôn
Thiếp thân bất tưởng vi chinh phụ
Quân thân khởi học vi vương tôn
130. Hà sự giang Nam dữ giang Bắc
Linh nhân sầu hiểu cánh sầu hôn
Nhất cá thị phong lưu thiếu niên khách
Nhất cá thị thâm khuê thiếu niên hôn
Khả kham lưỡng niên thiếu
135. Thiên lý các hàn huyên
Ức tích dữ quân tương biệt thời
Liễu điều do vị chuyển hoàng ly
Vấn quân hà nhật quy
Quân ước đỗ quyên đề
140. Đỗ quyên dĩ trục hoàng ly lão
Thanh Liễu lâu tiền ngữ ý nhi
Ức tích dữ quân tương biệt trung
Tuyết mai do vị thức Ðông phong,
Vấn quân hà nhật quy
145. Quân chỉ đào hoa hồng
Đào hoa dĩ bạn Ðông phong khứ
Lão mai giang thượng hựu phù dung
Dữ ngã ước hà sở
Nãi ước Lũng Tây sầm
150. Nhật trung hề bất lai
Trụy diệp đâu ngã trâm
Trữ lập không thế khấp
Hoang thôn huyên ngọ cầm
Dữ ngã ước hà sở
155. Nãi ước Hán Dương kiều
Nhật vãn hề bất lai
Cốc phong xuy ngã bào
Trữ lập không thế khấp
Hàn giang khởi mộ trào
160. Tích niên ký tín khuyến quân hồi
Kim niên ký tín khuyến quân lai
Tín lai nhân vị lai
Dương hoa linh lạc uỷ thương đài
Thương đài thương đài hựu thương đài
165. Nhất bộ nhàn đình bách cảm thôi
Tích niên hồi thư đính thiếp kỳ
Kim niên hồi thư đính thiếp quy
Thư quy nhân vị quy
Sa song tịch mịch chuyển tà huy
170. Tà huy tà huy hựu tà huy
Thập ước giai kỳ cửu độ vi

Bản dịch (của Bản dịch của Đoàn Thị Điểm)

Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai.
Thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân mây.
Trong cửa này đã đành phận thiếp,
Ngoài mây kia há kiếp chàng vay[1]?
115. Những mong cá nước vui vầy,
Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời.
Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ,
Chàng há từng học lũ vương tôn[2].
Cớ sao cách trở nước non,
120. Khiến người thôi sớm thôi hôm những sầu?
Trang phong lưu đang chừng niên thiếu,
Sánh nhau cùng dan díu chữ duyên.
Nỡ nào đôi lứa thiếu niên,
Quan san để cách hàn huyên cho đành[3]!
125. Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu,
Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca.
Nay quyên đã giục oanh già,
Ý nhi[4] lại gáy trước nhà líu lo.
Thuở đăng đồ[5] mai chưa dạn gió,
130. Hỏi ngày về chỉ độ đào bông.
Nay đào đã quyến gió đông,
Phù dung lại đã bên sông bơ xờ.[6]
Hẹn cùng ta Lũng Tây[7] nham ấy,
Sớm đã trông nào thấy hơi tăm.
135. Ngập ngừng lá rụng cành trâm,
Chiều hôm nghe dậy tiếng cầm[8] lao xao
Hẹn nơi nao Hán Dương[9] cầu nọ
Chiều lại tìm nào có tiêu hao.
Ngập ngừng gió thổi áo bào,
140. Bãi hôm tuôn dẫy nước trào[10] mênh mông.
Tin thường lại người không thấy lại,
Hoa dương tàn đã trải rêu xanh.
Rêu xanh mấy lớp chung quanh,
Sân đi một bước trăm tình ngẩn ngơ.
145. Thư thường lại người chưa thấy lại,
Bức rèm thưa lần dãi bóng dương.
Bóng dương mấy buổi xuyên ngang,
Lời sao mười hẹn chín thường đơn sai?
[1] Tiếng đệm của câu than thở.
[2] Con nhà giàu sang, ưa đi chơi không đoái đến gia đình.
[3] Quan san, hàn huyên (quan: ải, san: núi; hàn: lạnh, huyên: ấm): ý nói cách trở, không biết tin tức của nhau.
[] Chim én (yến) thường làm tổ trong mái nhà.
[5] Lên đường ra đi nơi xa.
[6] Có bản chép: Tuyết mai trắng bãi phù dung đỏ bờ.
[7] Lũng Tây sầm: núi nhỏ mà cao (sầm) ở đất Lũng Tây.
[8] Tiếng chim chóc.
[9] Tên đất.
[10] mộ trào (mộ: chiều; trào, triều: con nước): con nước lên buổi chiều hôm.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đặng Trần Côn » Hoài tưởng