22/01/2020 08:32Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Bạch mã thiên
白馬篇

Tác giả: Tào Thực - 曹植

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Tam Quốc
Đăng bởi Vanachi vào 26/11/2007 19:03

 

Nguyên tác

白馬飾金羈,
連翩西北馳。
借問誰家子,
幽并遊俠兒。
少小去鄉邑,
揚聲沙漠垂。
宿昔秉良弓,
楛矢何參差。
控弦破左的,
右發摧月支。
仰手接飛猱,
俯身散馬蹄。
狡捷過猴猿,
勇剽若豹螭。
邊城多警急,
胡虜數遷移。
羽檄從北來,
厲馬登高堤。
長驅蹈匈奴,
左顧陵鮮卑。
棄身鋒刃端,
性命安可懷?
父母且不顧,
何言子與妻?
名編壯士籍,
不得中顧私。
捐軀赴國難,
視死忽如歸。

Phiên âm

Bạch mã sức kim ky,
Liên phiên tây bắc[1] trì.
Tá vấn thuỳ gia tử,
U Tinh[2] du hiệp nhi.
Thiếu tiểu khứ hương ấp,
Dương thanh sa mạc thuỳ[3].
Túc tích[4] bỉnh lương cung,
Hộ[5] thỉ hà sâm si.
Khống huyền phá tả đích[6],
Hữu phát tồi nguyệt chi[7].
Ngưỡng thủ tiếp[8] phi nhu[9],
Phủ thân tán mã đề[10].
Giảo tiệp quá hầu viên,
Dũng phiếu nhược báo ly.
Biên thành đa cảnh cấp,
Hồ lỗ sổ thiên di.
Vũ hịch[11] tòng bắc lai,
Lệ mã[12] đăng cao đê.
Trường khu đạo Hung Nô,
Tả cố lăng Tiên Ty[13].
Khí thân phong nhận đoan,
Tính mệnh an khả hoài?
Phụ mẫu thả bất cố,
Hà ngôn tử dữ thê?
Danh biên tráng sĩ tịch,
Bất đắc trung cố tư.
Quyên khu phó quốc nạn,
Thị tử hốt như quy.

Dịch nghĩa

Bạch mã đeo cương vàng,
Rong ruổi lên tây bắc.
Hỏi thử con nhà ai,
Người tráng sĩ đất U, Tinh kia.
Khi thiếu niên đã rời quê,
Nổi danh ở vùng sa mạc biên ải.
Sớm chiều đều mang chiếc cung tốt,
Và tên làm bằng cây hộ nhiều bên người.
Dương dây vỡ đích bên trái,
Bắn bên phải nát mục tiêu.
Giơ tay ngẩng mặt cũng bắn trúng,
Cúi người cũng bắn trúng.
Nhanh nhẹn hơn khỉ vượn,
Lanh lợi như báo và thuồng luồng.
Thành ngoài biên ải nhiều cảnh báo gấp,
Giặc Hồ bắt đầu xâm nhập.
Hịch chiêu mộ từ phương bắc tới,
Đánh ngựa lên đê cao.
Đuổi dài giẫm đạp giặc Hung Nô,
Phía tả đánh đuổi Tiên Ty.
Hy sinh đầu ngọn giáo,
Tính mệnh có đáng xót thương?
Cha mẹ cũng không thể chăm sóc được,
Còn nói gì đến vợ con.
Tên ghi vào danh sách tráng sĩ,
Đâu thể màng tới chuyện riêng.
Bỏ thân vì quốc nạn,
Xem cái chết cũng như trở về.

Bản dịch (của Bản dịch của Điệp luyến hoa)

Bạch mã đeo cương vàng,
Lên tây bắc ruổi rong.
Hỏi con nhà ai thế,
Tráng sĩ đất U, Tinh?
Xa quê từ thuở nhỏ,
Vùng biên ải lẫy danh.
Sớm chiều đeo cung tốt,
Cùng tên hộ xếp bằng.
Vỡ đích trái tên bắn,
Nát tiêu phải cung dương.
Ngửa người cũng bắn trúng,
Cúi thân chẳng chệch đường.
Nhanh nhẹn hơn khỉ vượn,
Khoẻ như báo thuồng luồng.
Thành xa tin cấp báo,
Giặc Hồ đã vào trong.
Hịch từ phương bắc xuống,
Dẫn ngựa lên đê trông.
Giặc Hung Nô phải đuổi,
Tiên Ty cũng đạp bằng.
Hy sinh đầu mũi giáo,
Tính mệnh ai xót thương?
Cha mẹ không chăm sóc,
Thê tử chẳng ngó ngàng.
Tên biên vào danh sách,
Chuyện riêng có ai màng.
Bỏ thân vì nạn nước,
Chết về lại cố hương.
Bài này còn có tên Du hiệp thiên 遊俠篇 (theo Thái bình ngự lãm 太平御覽), là một bài nhạc phủ, thuộc Tạp khúc ca từ, nhưng không có lời cổ mà do Tào Thực tự sáng tác (tân đề nhạc phủ). Đây là một tác phẩm tiêu biểu cho những trước tác trong thời kỳ đầu của Tào Thực. Có ý kiến cho rằng bài này thể hiện chí hướng lập công báo quốc.

[1] Chỉ nơi biên ải thời đó.
[2] Tên hai châu, nay thuộc các tỉnh Hà Bắc, Sơn Tây và Thiểm Tây. Xưa ở đây có nhiều tráng sĩ.
[3] Là chữ 陲, chỉ miền biên viễn, biên thuỳ.
[4] Tức “túc tịch” 夙夕, sớm tối, ý nói mỗi ngày.
[5] Cây hộ, thân có thể dùng làm tên.
[6] Ở đây là đích để bắn.
[7] Cũng dùng gọi đích bắn tên, còn gọi là “tố chi” 素支.
[8] Nghĩa là ngẩng mặt.
[9] Một loài vượn thân lùn nhỏ, đuôi màu vàng, bám tay leo cây lên xuống rất nhẹ nhàng. Do “đích”, “nguyệt chi”, “mã đề” trên dưới đều chỉ đích bắn tên, nên “phi nhu” 飛猱 ở đây có lẽ cũng tương tự như vậy.
[10] Cỏ mã đề, ở đây cũng là tên gọi chỉ đích bắn tên.
[11] Hịch chiêu gọi, đóng trên bảng gỗ, trên cắm lông chim thể hiện sự khẩn cấp, nên gọi là “vũ hịch”.
[12] Đánh ngựa, dẫn ngựa.
[13] Một tộc Hung Nô ở phía đông, vùng Liêu Tây, cuối thời Đông Hán khá cường thịnh. Về sau đến đời Đông Tấn từng thiết lập chính quyền Bắc Nguỵ tại lưu vực sông Hoàng Hà, thống trị suốt hơn 150 năm.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Tào Thực » Bạch mã thiên