21/01/2020 12:10Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Vương giải tử phu thê
王解子夫婦

Tác giả: Ngô Gia Kỷ - 吳嘉紀

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thanh
Đăng bởi tôn tiền tử vào 25/03/2019 20:50

 

Nguyên tác

張羅待黄鵠,
鴛鴦乃罹咎。
義士妻遣戍,
解子罷飲酒。
慘愴還家門,
色驚糟糠妻。
漿釀寄性命,
今何不入口?
問訊執壺前,
解子起搖手。
『汝曹婦女流,
中懷豈堪語!
若欲知其繇,
汝且將壺去。
漿釀非刀劍,
能平不平事?
汝亟將壺去,
義士妻遣戍。』
其妻毅然謂:
『堂堂義士妻。
此去為奴婢,
羞辱儂念之。
面貌外不識,
他人可代伊。』
何人可代伊?
搔頭惱阿公。
『公也無庸惱,
愿代者是儂。』
解子得聞之,
歡喜涕還墮:
『汝曹儻如此,
我拜汝曹坐。』
未明肩輿出,
曉至官衙裏。
鞴鞍遣戍人,
點名及解子。
宿雁雙雙鳴,
回首睞鄉土。
夫婦欲何言!
月落別黄河。
日出見戍樓,
來日關塞外。
永辭我故夫,
高情生惻怛。
淚下如連珠,
無端故里客。
邂逅他鄉陌,
深悲義士妻。
遽解黄金贖,
仁義感道路。
見者欣相告,
鋃鐺繫馬上。
戈梃荷馬前,
意氣火伴中。
寧知路險艱,
蕭森北林樹。
黤黮黄河煙,
蘆葦隱漁火。
誰知有匹偶,
天暗全骨肉。
西風吹歸騎,
東皋指茅屋。
解子婦言旋,
義士妻免辱。
團團臺上鏡,
皎皎櫝中玉。
解子樂何如?
滿引杯中綠。

Phiên âm

Trương la đãi hoàng hộc,
Uyên ương nãi la cữu.
Nghĩa sĩ[1] thê khiển thú,
Giải tử bãi ẩm tửu.
Thảm thương hoàn gia môn,
Sắc kinh tao khang thê.
Tương nhương ký tính mệnh,
Kim hà bất nhập khẩu?
Vấn tấn chấp hồ tiền,
Giải tử khởi dao thủ.
“Nhữ tào phụ nữ lưu,
Trung hoài khởi kham ngữ!
Nhược dục tri kỳ do,
Nhữ khả tương hồ khứ.
Tương nhương phi đao kiếm,
Năng bình bất bình sự?
Nhữ cức tương hồ khứ,
Nghĩa sĩ thê khiển thú.”
Kỳ thê nghị nhiên vị:
“Đường đường nghĩa sĩ thê.
Thử khứ vi nô tỳ,
Tu nhục nùng niệm chi.
Diện mạo ngoại bất thức,
Tha nhân khả đại y.”
Hà nhân khả đại y?
Tao đầu não a công.
“Công giã vô dung não,
Nguyện đại giả thị nùng.”
Giải tử đắc văn chi,
Hoan hỷ thứ hoàn đoạ.
“Nhữ tào thảng như thử,
Ngã bái nhữ tào toạ.”
Vị minh kiên dư xuất,
Hiểu chí quan nha lý.
Bị yên khiển thú nhân,
Điểm danh cập Giải tử.
Ngân xanh hệ mã thượng,
Qua đĩnh hà mà tiền.
Ý khí hoả bạn trung,
Ninh tri lộ hiểm gian.
Tiêu sâm bắc lâm thụ,
Yểm thậm Hoàng Hà yên.
Lư vi ẩn ngư hoả,
Túc nhạn song song minh.
Hồi thủ lai hương thổ,
Phu phụ dục hà ngôn!
Nguyệt lạc biệt Hoàng Hà,
Nhật xuất kiến thú lâu.
Lai nhật quan tái ngoại,
Vĩnh từ ngã cố phu.
Cao tình sinh trắc đát,
Lệ hạ như liên châu.
Vô đoan cố lý khách[2],
Giải cấu tha hương mạch.
Thâm bi nghĩa sĩ thê,
Cự giải hoàng kim thục.
Nhân nghĩa cảm đạo lộ,
Kiến giả hân tương cáo.
Thuỳ tri hữu thất ngẫu,
Thiên ám toàn cốt nhục.
Tây phong xuy quy kỵ,
Đông cao chỉ thảo ốc.
Giải tử phụ ngôn toàn,
Nghĩa sĩ thê miễn nhục.
Đoàn đoàn đài thượng kính,
Giảo giảo độc trung ngọc.
Giải tử lạc hà như?
Mãn dẫn bôi trung lục.

Dịch nghĩa

Giăng lưới chờ ngỗng trời
Chim uyên ương lại vướng
Vợ nghĩa sĩ bị đầy đi thú
Anh lính giải trở về nhà buồn rầu
Bỏ rượu không uống nữa
Vợ thấy nét mặt chồng rất sợ
Rượu là mạng sống
Nay sao lại không uống lấy một giọt?
Hỏi han xong, vợ cầm bình rượu lại
Anh lính giải xua tay lia lịa:
“Mình là phận đàn bà
Ta khó bày tỏ nỗi lòng lắm!
Nếu mình mà muốn biết nguyên do
Hãy cất bình rượu đi ngay
Rượu, chứ đâu phải đao kiếm
Có thể nào san phẳng nỗi bất bình?
Đem bình rượu đi đi
Vợ nghĩa sĩ bị đầy đi thú”
Người vợ khảng khái nói:
“Đàng hoàng là vợ một nghĩa sĩ
Đi như thế là làm nô tỳ
Tôi thấy là rất hổ thẹn nhục nhã
Mặt mũi, người ngoài làm sao mà nhận ra được
Người khác có thể thay cho chị ấy”
Ai mà thay được chị ấy?
Chồng bực bội gãi đầu
“Chàng không cần bực bội nữa
Tôi xin đi thay”
Anh lính giải nghe lời nói này
Vui mừng trào nước mắt:
“Mình nếu làm như thế
Hãy ngồi lên tôi lạy”
Trời chưa sáng hai vợ chồng lên xe ra đi
Sáng rõ đến quan nha
Đóng yên cho người bị đầy đất thú
Điểm tên đến anh lính giải
Xích sắt buộc trên ngựa
Vác giáo đi trước, ngựa đi sau
Khí thế hăng nhất trong tốp giải
Chẳng nề hà đường khó khăn
Rừng phương bắc rậm rạp
Mây Hoàng Hà âm u
Ánh lửa chài thấp thoáng trong lau
Đôi én ngủ trong bụi thức dậy kêu
Ngoảnh nhìn lại mảnh đất quê hương
Vợ chồng còn biết nói gì nữa!
Trăng lặn xa Hoàng Hà
Bình minh trông thấy lầu lính thú
Ngày mai đây, ngoài nơi quan ải
Vĩnh viễn xa chồng ta
Tình sâu sinh nỗi buồn đau
Nước mắt lã chã như hạt châu
Bỗng có người khách cùng quê
May gặp trên nẻo đường tha hương
Người khách đó rất thương người vợ nghĩa sĩ
Liền bỏ tiền ra chuộc
Tấm lòng nhân nghĩa làm cảm động khách qua đường
Người trông thấy kể lại cho nhau nghe
Có ai hay đây là vợ chồng có lứa đôi
Trời kín đáo giữ toàn vẹn cho người thân
Gió tây thổi ngựa người vợ về
Qua gò cao chỉ vào mái nhà nhỏ
Vợ anh lính giải lại trở về
Vợ nghĩa sĩ tránh mang nỗi nhục
Tấm gương trên giá lại tròn
Ngọc trong hộp vẫn sáng trong
Anh lính giải vui đến ngần nào!
Rót đầy chén tăm xủi.

Bản dịch (của Bản dịch của Lê Xuân Khải)

Chờ ngỗng trời, giăng lưới
Uyên ương lại mác vào
Vợ nghĩa sĩ đầy thú
Anh lính giải buồn rầu
Nên anh bỏ luôn rượu
Vợ thấy vậy lạ sao
Rượu vốn gửi mạng sống
Nay một giọt không vào
Cầm bình vợ đến hỏi
Tay anh lính xua ào
“Mình là thân phận gái
Chuyện trong lòng biết đâu!
Nếu mình như muốn biết
Hãy đem bình ra mau
Rượu đâu phải đao kiếm
Việc bất bình dẹp sao?
Vợ nghĩa sĩ đầy thú
Bình đem ra mau nào”
Người vợ khảng khái đáp:
“Vợ nghĩa sĩ ai đâu
Đem để làm tỳ bộc
Tôi thấy hổ lòng sao
Mặt mũi nào ai biết
Người khác dễ thay vào”
Ai là người thay được?
Chồng bực bội gãi đầu
“Nhà cũng đừng lo lắng
Tôi thay, chứ ai nào”
Anh lính nghe nói vậy
Mừng vui mi lệ trào:
“Mình mà làm như thế
Ta lậy ngồi lên cao”
Cùng xe trời chưa sáng
Kịp đến nha quan hầu
Đóng yên cho người thú
Điểm danh anh lính đầu
Xích sắt giằng trên ngựa
Vác giáo trước, ngựa sau
Khí thế hăng hái lắm
Đường đi khó trăm chiều
Mây Hoàng Hà mù mịt
Rừng lên bắc rậm cao
Lửa chài trong lau lách
Đôi én ngủ dậy kêu
Quay lại nhìn quê cũ
Vợ chồng chỉ nhìn nhau
Xa Hoàng Hà trăng lặn
Bình minh thấy thú lầu
Ngày mai ngoài biên ải
Vĩnh biệt chồng còn đâu
Tình nồng bi thương nặng
Lệ giỏ như sa châu
Khách cùng quê bỗng gặp
Nẻo đường xa thân nhau
Thương sao vợ nghĩa sĩ
Vội đem tiền chuộc nhau
Nhân nghĩa khách đường thấm
Người trước kể người sau
Vợ chồng nào ai biết
Đoàn tụ nhờ trời cao
Gió tây thổi ngựa vợ
Mái tranh chỉ gò sâu
Trở về vợ lính giải
Vợ nghĩa sĩ thoát sầu
Tấm gương tròn trên giá
Ngọc trong hộp trong mầu
Vui nào bằng anh lính
Chén đầy tăm xủi ngầu.
Lời dẫn: “Vương giải tử ở Như Cao nghiện rượu nặng. Trong làng có vợ nghĩa sĩ mỗ nào đó, tội đáng đầy ra biên thú, quan huyện sai nha dịch giải đi, trong đó có Vương giải tử. Ở huyện nhà về, buồn bực suốt đêm, vì thế mà bỏ rượu. Vợ hỏi biết, tình nguyện đem thân thay thế cho vợ người nghĩa sĩ. Giải tử bằng lòng, đưa đến nơi thú, gặp người làng bỏ tiền chuộc vợ nghĩa sĩ về, không biết người này là vợ giải tử. Diêu Tiềm kể lại với ta, bảo ta làm thơ.”

Tác giả làm bài thơ này vào năm Khang Hy thứ 20.

[1] Là Hứa Nguyên Phổ, tự Nguyên Bác, người Như Cao (nay thuộc Giang Tô). Sau khi Minh mất, từng săm chữ vào hai cánh tay “Sinh vi Minh nhân, tử vi Minh quỷ”, lại còn săm chữ vào bụng “Bất quý bản triều” cự tuyệt “Thế phát lệnh” (lệnh cạo đầu), cắt tóc như nhà sư khất thực (đầu đà). Do bị kẻ thù cáo giác, ông bị triều Thanh xử tử hình. Theo hình luật triều Thanh vợ ông phải đầy đi biên ải.
[2] Chỉ Mạo Tương. Như Cao huyện huyện tục chí ghi chú vào bài thơ này: “Người đem tiền chuộc là Mạo Tương”. Mạo Tương (1611-1693), văn học gia đầu đời Thanh, tự Tịch Cương, tự hiệu Sào Dân và Phác Sào, người Như Cao, sau khi Minh mất, ông ẩn cư không ra làm quan. Tác phẩm có Sào Dân thi, văn tập.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Ngô Gia Kỷ » Vương giải tử phu thê