26/10/2021 19:10Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Thuỳ lão biệt
垂老別

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 17/06/2005 12:11

 

Nguyên tác

四郊未寧靜,
垂老不得安。
子孫陣亡盡,
焉用身獨完!
投杖出門去,
同行為辛酸。
幸有牙齒存,
所悲骨髓幹。
男兒既介冑,
長揖別上官。
老妻臥路啼,
歲暮衣裳單。
孰知是死別,
且復傷其寒。
此去必不歸,
還聞勸加餐。
土門壁甚堅,
杏園度亦難。
勢異鄴城下,
縱死時猶寬。
人生有離合,
豈擇衰盛端!
憶昔少壯日,
遲回竟長嘆。
萬國盡征戍,
烽水被岡巒。
積屍草木腥,
流血川原丹。
何鄉為樂土,
安敢尚盤桓!
棄絕蓬室居,
塌然摧肺肝。

Phiên âm

Tứ giao vị ninh tĩnh,
Thuỳ lão bất đắc an.
Tử tôn trận vong tận,
Yên dụng thân độc hoàn?
Đầu trượng xuất môn khứ?
Đồng hành vị tân toan.
Hạnh hữu nha xỉ tồn,
Sở bi cốt tuỷ can.
Nam nhi ký giới trụ,
Trường ấp biệt thượng quan.
Lão thê ngoạ lộ đề,
Tuế mộ y thường đan.
Thục tri thị tử biệt?
Thả phục thương kỳ hàn.
Thử khứ bất tất quy,
Hoàn văn khuyến gia xan.
Thổ Môn bích thậm kiên,
Hạnh viên độ diệc nan.
Thế dị Nghiệp Thành hạ,
Tùng tử thời do khoan.
Nhân sinh hữu ly hợp,
Khởi trạch suy thịnh đoan?
Ức tích thiếu tráng nhật,
Trì hồi cánh trường than.
Vạn quốc tận chinh thú,
Phong hoả bị cương loan.
Tích thi thảo mộc tinh,
Lưu huyết xuyên nguyên đan.
Hà hương vi lạc thổ,
An cảm thượng bàn hoàn.
Khí tuyệt bồng thất cư,
Tháp nhiên tồi phế can.

Dịch nghĩa

Bốn phương chưa ổn định
Thân về già cũng chẳng được yên
Con cháu chết trận hết
Một mình sống để làm gì?
Quẳng gậy ra cửa đi
Bạn đồng hành cũng lấy làm chua xót
May hàm răng vẫn còn
Thương nỗi tuỷ xương đã khô kiệt!
Thân trai đã mặc đồ giáp trụ
Vái dài từ biệt quan trên
Vợ già lăn ra đường gào
Hết năm rồi quần áo mỏng manh
Ai ngờ đến lúc tử biệt
Mà còn thương nhau rét!
Lần này đi chắc chắn không trở về
Vẫn còn nghe khuyên nhau cố ăn thêm
Nơi Thổ Môn thành luỹ rất vững
Thành Hạnh Viên cũng khó vượt qua
Hình thế không giống như ở dưới thành Nghiệp
Dù có chết cũng còn lâu
Đời người có tan có hợp
Kể gì tuổi trẻ hay già ?
Nhớ lại đương thì trai tráng
Băn khoăn rồi lại thở dài
Muôn nước đều có chiến tranh đồn thú
Lửa báo động bốc khắp núi gò
Thây chất làm tanh hôi cây cỏ
Máu chảy nhuộm đỏ sông ngòi đồng ruộng
Còn quê hương nào là đất yên vui
Mà còn dám chần chừ nữa?
Dứt bỏ nơi ở tranh pheo này
Rời rã như nát cả gan phổi!

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Bốn cõi còn chưa lặng,
Gần già chẳng đặng an.
Con cháu chết trận hết,
Sống làm gì một thân.
Ném gậy bước ra cửa,
Chua xót cả hàng quân.
May còn răng cỏ tốt,
Buồn nỗi tuỷ xương cằn.
Đã là trai mũ giáp,
Chắp tay chào thượng quan.
Vợ già lăn đường khóc,
Năm cùng áo mỏng manh.
Biết đây là tử biệt,
Chịu lạnh nghĩ thương tình.
Chắc đi không về nữa,
Khuyên mãi: gắng cơm canh.
Thổ Môn thành vững chãi,
Hạnh Viên vượt cũng gay.
Thế khác buổi thành Nghiệp,
Có chết cũng còn dai...
Người sinh có ly hợp,
Già trẻ há chừa ai.
Nhớ tiếc ngày trai tráng,
Dùng dằng những than dài.
Cả nước đều giặc giã,
Khói lửa trùm núi sông.
Thây chất tanh cây cỏ,
Máu trôi đỏ lạch đồng.
Đâu là nơi sung sướng,
Há còn dám thung dung.
Bỏ hẳn gian lều cỏ,
Đứt cả ruột cả lòng.
(Năm 759)

Ba bài thơ Tân hôn biệt 新婚別, Thuỳ lão biệt 垂老別 và Vô gia biệt 無家別 được gọi là Tam biệt 三別.
Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, Hoàng Trung Thông, NXB Văn học, 1962

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Thuỳ lão biệt