01/11/2020 09:11Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Nhĩ lung
耳聾

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn bát cú; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi hongha83 vào 03/02/2010 19:35

 

Nguyên tác

生年鶡冠子,
歎世鹿皮翁。
眼復幾時暗,
耳從前月聾。
猿鳴秋淚缺,
雀噪晚愁空。
黃落驚山樹,
呼兒問朔風。

Phiên âm

Sinh niên hạt quan tử,
Thán thế lộc bì ông[1].
Nhãn phục kỷ thì ám,
Nhĩ tòng tiền nguyệt lung.
Viên minh thu lệ khuyết,
Tước táo vãn sầu không.
Hoàng lạc kinh sơn thụ,
Hô nhi vấn sóc phong.

Dịch nghĩa

Khi sống thì là chàng quan võ,
Nhưng khi than đời thì là người đội mũ da nai.
Mắt lúc nào thì mù,
Tai thì tháng trước điếc rồi.
Vượn hót, lệ mùa thu đã cạn,
Chim kêu chỉ rặt buổi chiều buồn.
Thấy vàng rơi mà ngại cho cây rừng,
Gọi trẻ hỏi có phải gió bắc không?

Bản dịch của Nhượng Tống

Việc đời càng biết càng thương
Suối rừng bao kẻ tìm phuơng trốn đời
Bao giờ mắt mới được đui?
Tai thì tháng trước điếc rồi, sướng không
Sẻ kêu chiều chẳng bận lòng
Trời thu, vượn hót lệ hồng chẳng sa
Gió gì? Gọi trẻ hỏi qua
Giật mình vàng rụng trông ra cây rừng
(Năm 767)

Mùa thu năm 767, tai trái của tác giả bắt đầu bị điếc.

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
[1] Người ở ẩn.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Nhĩ lung