06/08/2020 09:21Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Vãn hứng
晚興

Tác giả: Nguyễn Trãi - 阮廌

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 20/02/2006 03:22

 

Nguyên tác

窮巷幽居苦寂寥,
烏巾竹杖晚逍遙。
荒村日落霞棲樹,
野徑人稀水沒橋。
今古無窮江漠漠,
英雄有恨葉蕭蕭。
歸來獨憑欄杆坐,
一片冰蟾掛碧霄。

Phiên âm

Cùng hạng u cư khổ tịch liêu,
Ô cân trúc trượng vãn tiêu diêu[1].
Hoang thôn[2] nhật lạc, hà thê thụ.
Dã kính nhân hy, thuỷ một kiều.
Kim cổ vô cùng giang mạc mạc[3],
Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu[4].
Quy lai độc bẵng[5] lan can toạ,
Nhất phiến băng thiềm[6] quải bích tiêu.

Dịch nghĩa

Trong ngõ cùng, ở nơi vắng vẻ, buồn nỗi quạnh hiu,
Khăn đen, gậy trúc đi dạo chơi buổi chiều.
Nơi thôn vắng, mặt trời xế, ráng đậu trên cây,
Con đường ngoài nội ít người qua lại, nước ngập cầu.
Xưa nay thời gian không cùng như sông chảy xuôi mờ mịt,
Anh hùng mang hận như tiếng gió thổi cây lá nghe vu vu.
Trở về một mình ngồi tựa lan can,
Một mảnh trăng sáng lạnh như băng treo trên nền trời biếc.

Bản dịch của Xuân Diệu

Ở xóm xa cùng, khổ quạnh hiu,
Khăn đen gậy trúc dạo quanh chiều.
Thôn hoang bóng xế cây nâng ráng,
Đường ruộng người thưa nước ngập cầu.
Kim cổ không cùng sông lặng lặng,
Anh hùng ôm hận lá lao xao.
Quay về, một chắc[7] lan can tựa,
Trăng sáng như băng trời biếc treo.
[1] Thong thả đi đây đi đó, sống một cách ung dung tự tại, không bị bó buộc.
[3] Mây mù, mây bủa mờ mịt; tả dòng sông phía xa có mây mù làm cho mờ mịt đi.
[4] Gió thổi vù vù; tả cảnh gió thổi vào hàng cây nghe vù vù.
[2] Bản Đào Duy Anh ghi là "thôn hoang", nhưng "hoang thôn" thì đối chuẩn hơn.
[5] Chữ 憑(凭) đã được Phan Võ, Lê Thước, Đào Phương Bình phiên là "vựng"; Đào Duy Anh phiên là "vững"; nhóm biên soạn Thơ văn Nguyễn Trãi phiên là "bứng"; theo Từ Hải và Từ Nguyên chữ này được phiên thiết là "bì dăng" thì phải đọc là "bằng" hoặc "bẵng". Thiều Chửu cũng đọc hai âm là "bằng" và "bẵng" và giảng là tựa ghế.
[6] (băng: giá, lạnh; thiềm: con thiềm thừ, con cóc lớn) chỉ mặt trăng vì truyền thuyết cho rằng trên mặt trăng có con cóc lớn.
[6] (băng: nước đông giá - thiềm: con cóc) Mặt trăng lạnh. Theo tích Hằng Nga đánh cắp thuốc tiên của chồng là Hậu nghệ uống vào thành tiên, lên ở cung trăng, sau biến thành con cóc. Do đó có danh từ Băng thiềm hoặc Ngọc thiềm (con cóc bằng ngọc).
[7] Tiếng Nghệ Tĩnh, có nghĩa là một mình.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Trãi » Vãn hứng