04/07/2022 00:50Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Dao lạc
搖落

Tác giả: Lý Thương Ẩn - 李商隱

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Vãn Đường
Đăng bởi Diệp Y Như vào 21/04/2010 00:04

 

Nguyên tác

搖落傷年日,
羈留念遠心。
水亭吟斷續,
月幌夢飛沉。
古木含風久,
疏螢怯露深。
人閒始遙夜,
地迥更清砧。
結愛曾傷晚,
端憂復至今。
未諳滄海路,
何處玉山岑。
灘激黃牛暮,
雲屯白帝陰。
遙知沾灑意,
不減欲分襟。

Phiên âm

Dao lạc thương niên nhật,
Ky lưu niệm viễn tâm.
Thuỷ đình ngâm đoạn tục,
Nguyệt hoảng mộng phi trầm.
Cổ mộc hàm phong cửu,
Sơ huỳnh khiếp lộ thâm.
Nhân nhàn thuỷ dao dạ,
Địa quýnh cánh thanh châm.
Kết ái tằng thương vãn,
Đoan ưu phục chí kim.
Vị am thương hải lộ[1],
Hà xứ Ngọc Sơn sầm[2].
Than kích Hoàng Ngưu[3] mộ,
Vân đồn Bạch Đế âm.
Dao tri triêm sái ý,
Bất giảm phục phân khâm.

Dịch nghĩa

Cỏ cây xơ xác, đau buồn khi năm tháng trôi đi,
Thân khách lưu lạc động lòng nhớ quê.
Bên thuỷ đình, giọng ngâm lúc đứt lúc nối,
Màn trăng sáng làm giếc mộng lúc thăng lúc trầm.
Cây xưa đứng trong gió giật,
Đom đóm sợ hãi vì sương đêm dày.
Người ở chốn xa chắc trong đêm lẻ bóng,
Tiếng chày giặt vải trong đêm vang vọng khiến đường như dài thêm.
Yêu nhau đau lòng vì quá muộn,
Lòng ta buồn bã đến mãi giờ.
Chưa tỏ đường biển cả,
Nơi nào là ngọn núi ngọc?
Buổi chiều trên bến Hoàng Ngưu sóng vỗ bờ,
Thành Bạch Đế mây đùn mù mịt.
Người ở xa ấy biết ý ta buồn rỏ lệ,
Chắc buồn bã không kém lúc ta chia li.

Bản dịch của Lê Quang Trường

Năm tàn hoa xơ xác,
Vất vưởng động lòng quê.
Bến nước, ngâm rời rạc,
Màn trăng, mộng vật vờ.
Cỏ cây ngùi gió giật,
Đom đóm hãi sương mờ.
Lẻ bóng đêm đằng đẵng,
Chày ai vọng xa lơ.
Yêu nhau hận quá muộn,
Buồn bã đến bây giờ.
Non Ngọc đâu là chốn?
Biển xanh chưa tỏ bờ.
Chiều Hoàng Ngưu nước vỗ,
Thành Bạch Đế mây xô.
Người biết ta rỏ lệ,
Buồn không kém ngày xưa.
Bài này được làm vào khoảng năm Đại Trung thứ hai khi tác giả rời Quế Châu trỏ về bắc, lưu lạc ở giữa hai vùng Quỳ (Quỳ Châu phủ, nay thuộc huyện Phụng Tiết, tình Tứ Xuyên) và Giáp, động lòng nhớ nhà, cảm khái nỗi cô đơn lẻ loi, cùng đường mất lối. Thơ tả hàm súc kín đáo, tình điệu tuyệt đẹp. Kỷ Quân trong "Ngọc Khê Sinh thi tập bình" nói: "Ngữ cực nùng chí, giai tại bất mỹ" (lời lẽ cực nồng nàn, thơ đẹp ở chỗ không phù mỹ).

Nguồn: Lý Thương Ẩn - lan trong rừng vắng, Lê Quang Trường biên khảo, NXB Văn Nghệ, 2009
[1] Đường biển xanh. Sách "Xuân thu phồn lộ", "Quan đức" chép: "Do vậy, nhận mệnh lớn nên làm sao bốn biển quy thuận theo, như các vì sao chầu về phương bắc, như sông suối đổ về biển cả". Ở đây tỉ dụ con đường đến kinh thành.
[2] Núi này có nhiều ngọc, nên gọi là Ngọc Sơn. Sầm: núi nhỏ mà cao. Ở đây dùng để ví với chức quan.
[3] Bến Hoàng Ngưu. Sách "Thuỷ kinh chú" chép: Sông Trường Giang trôi về đông (đến Tây Lăng giáp) chảy qua núi Hoàng Sơn, dưới núi có bến sông tên là Hoàng Ngưu. Bờ nam núi non trùng điệp, giữa đỉnh cao nhất có phiến đá giống như hình người vác đao dắt trâu, người đen trâu vàng hiển hiện rất rõ. Vách đá cao, nước sông chảy vòng nên có bài ca dao của người đi đường rằng: "Triêu phát Hoàng Ngưu, mộ túc Hoàng Ngưu, tam triêu tam mộ, Hoàng ngưu như cố" (Sớm rời Hoàng Ngưu, chiều trú Hoàng Ngưu, ba ngày ba đêm, Hoàng Ngưu vẫn như trước). Ý nói dòng nước sông chảy quanh, trông lại như một.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Lý Thương Ẩn » Dao lạc