19/09/2021 21:11Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Lôi (Đại hạn sơn nhạc tiêu)
雷(大旱山嶽燋)

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi hongha83 vào 13/11/2011 03:31

 

Nguyên tác

大旱山嶽燋,
密雲復無雨。
南方瘴癘地,
罹此農事苦。
封內必舞雩,
峽中喧擊鼓。
真龍竟寂寞,
土梗空俯僂。
籲嗟公私病,
稅斂缺不補。
故老仰面啼,
瘡痍向誰數。
暴尪或前聞,
鞭巫非稽古。
請先偃甲兵,
處分聽人主。
萬邦但各業,
一物休盡取。
水旱其數然,
堯湯免親睹。
上天鑠金石,
群盜亂豺虎。
二者存一端,
愆陽不猶愈。
昨宵殷其雷,
風過齊萬弩。
復吹霾翳散,
虛覺神靈聚。
氣暍腸胃融,
汗滋衣裳汙。
吾衰尤拙計,
失望築場圃。

Phiên âm

Đại hạn sơn nhạc tiêu,
Mật vân phục vô vũ.
Nam phương chướng lệ địa,
Ly thử nông sự khổ.
Phong nội tất vũ vu,
Giáp trung huyên kích cổ.
Chân long cánh tịch mịch,
Thổ ngạnh không phủ lũ.
Dụ ta công tư bệnh,
Thuế liễm khuyết bất bổ.
Cố lão ngưỡng diện đề,
Sang di hướng thuỳ số.
Bạo uông hoặc tiền văn,
Tiên vu phi kê cổ.
Thỉnh tiên yển giáp binh,
Xử phân thính nhân chủ.
Vạn bang đãn các nghiệp,
Nhất vật hưu tận thủ.
Thuỷ hạn kỳ số nhiên,
Nghiêu Thang miễn thân đổ.
Thượng thiên thước kim thạch,
Quần đạo loạn sài hổ.
Nhị giả tồn nhất đoan,
Khiên dương bất do dũ.
Tạc tiêu ân kỳ lôi,
Phong quá tề vạn nỗ.
Phục xuy mai ế tán,
Hư giác thần linh tụ.
Khí yết trường vị dung,
Hãn tư y thường ô.
Ngô suy vưu chuyết kế,
Thất vọng trúc trường phố.

Dịch nghĩa

Gặp hạn to, núi non cháy,
Mây dầy mà không mưa.
Nơi miềm nam oi bức,
Bị vậy nên việc nông gặp khó.
Trong vùng tất cầu vái,
Nơi kẽm chiêng trống vang.
Rồng thật đã im lìm,
Tượng thần bằng đất hay gỗ cũng lớ ngớ.
Than ôi cả việc công lẫn tư đều lo,
Thuế má thiếu không nạp nổi.
Các cụ già ngửa mặt than,
Đau khổ này kể cùng ai.
Hoặc nghe theo trước phơi tên gù đánh roi cô đồng,
Không nghịch lại với thói xưa.
Xin trước hết cất vũ khí đi,
Làm đúng phận bằng cách nghe chủ loài người (trời).
Vạn xứ đã có cơ ngơi rồi,
Xin thôi vơ vét dù chỉ một vật.
Hạn hán là chuyện thường tình,
Vua Nghiêu, vua Thang cũng đâu có miễn không thấy cảnh đó.
Trên trời nung chảy vàng, đá,
Bọn cướp phá như hùm beo.
Hai cái còn lại một mối,
Gây tội với đời không kém đâu.
Đêm qua sấm động dữ,
Gió thổi nhanh gấpngàn mũi tên.
Lại thổi tan hết mây mù,
Chẳng thấy thần linh tụ tập.
Khí nóng trong ruột, dạ hừng hực,
Mồ hôi toát làm ướt áo quần.
Tôi đã già lại vụng tính,
Làm vườn nên bị thất bại.

Bản dịch của Nhượng Tống

Nắng to cháy cả núi rừng
Cơn mưa kéo đến, lại chừng không mưa
Miền nam lam chướng mịt mờ
Trời làm đại hạn cày bừa mất công
Vang đèo tiếng trống thì thùng
Lập đàn đảo vũ cả vùng đua nhau
Rồng thần xa vắng bấy lâu
Tượng sành, bụt đất, khẩn cầu không thiêng
Thuế sưu thiếu thốn lăn chiêng
Hại chung cả xứ chẳng riêng một nhà
Đau thương ai kẻ nghe ra
Nhìn trời cụ lão kêu la nghẹn ngào
Phơi gù, đánh cốt, sách nào
Giáo gươm xin trước xếp vào một nơi
Xử phân mặc cả Con Trời
Của đừng vét hết, dân thời nên thương
Xưa nay thuỷ, hạn sự thường
Vua Nghiêu đã trải, vua Thang cũng từng
Hai đằng còn lại một đằng
Một rằng trời đốt, hai rằng giặc pha
Vuốt hùm, răng sói tính ra
Chảy vàng, nổ đá chắc là còn hơn
Đêm qua tiếng sấm động ran
Muôn tên gió bắn từng cơn rào rào
Mây mù tan mất cớ sao
Các thần các thánh trông nào thấy chi
Ruột gan nung nấu nóng ghê
Áo quần như giặt đầm đìa mồ hôi
Thật già mà dại là tôi
Trồng vườn trồng được thôi thôi mong gì
(Năm 766)
Nguồn: Thơ Đỗ Phủ (Nhượng Tống dịch), NXB Văn hoá thông tin, 1996

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Lôi (Đại hạn sơn nhạc tiêu)