14/10/2019 20:21Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Tống Trung sứ Vũ Thích Chi
送中使武適之

Tác giả: Nguyễn Phi Khanh - 阮飛卿

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Trần
Đăng bởi Vanachi vào 04/07/2008 02:32

 

Nguyên tác

五色雲邊出使星,
凜然忠義照人明。
春臨梅驛霜蹄急,
雪霽淮潮玉節清。
天地北南雙眼闊,
山河夷險寸心平。
慇懃今日送君別,
杯酒難勝萬里情。

Phiên âm

Ngũ sắc vân biên xuất sứ tinh,
Lẫm nhiên trung nghĩa chiếu nhân minh.
Xuân lâm Mai dịch[1] sương đề cấp,
Tuyết tễ Hoài triều[2] ngọc tiết thanh.
Thiên địa bắc nam song nhãn khoát,
Sơn hà di hiểm thốn tâm bình.
Ân cần kim nhật tống quân biệt,
Bôi tửu nan thăng vạn lý tình.

Dịch nghĩa

Bên áng mây năm sắc xuất hiện ngôi sao sứ thần,
Khí tiết trung nghĩa lẫm liệt dọi sáng lòng người.
Xuân tới trạm Mai, vó ngựa trong sương vội vã,
Tuyết quang Hoài Thuỷ, tiết ngọc trong sáng.
Trời đất có bắc có nam, tầm mắt thênh thang,
Núi sông chỗ bằng chỗ hiểm, tấc lòng trung trinh.
Hôm nay ân cần tiễn biệt ngài,
Chén rượu khôn ngăn mối tình muôn dặm.

Bản dịch (của Bản dịch của Đào Phương Bình)

Bên cạnh năm mây hiện sứ lang,
Bừng bừng toả khắp khí trung lương.
Tuyết quang Hoài Thuỷ dương cờ tiết,
Xuân tới mai đình, giục vó sương.
Trời đất bắc nam, nhìn bát ngát,
Non sông bình hiểm dạ thênh thang.
Tiễn đưa xiết kể bâng khuâng nỗi,
Chén rượu khôn ngăn tứ dặm trường.
Trung sứ có nghĩa người đại diện tạm thời cho vua thực hiện công việc nhất định.

Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập III), NXB Khoa học xã hội, 1978
[1] Trạm dịch trên Mai lĩnh, tượng trưng các trạm sứ thần sẽ đi qua.
[2] Sông Tần Hoài, một nhánh của Trường giang, chảy qua thành phố Kim Lăng.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Phi Khanh » Tống Trung sứ Vũ Thích Chi