20/02/2020 21:29Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Minh nguyệt thiên
明月篇

Tác giả: Hà Cảnh Minh - 何景明

Thể thơ: Thất ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Minh
Đăng bởi tôn tiền tử vào 31/01/2019 22:53

 

Nguyên tác

長安月,
離離出海嶠。
遥見層城隱半輪,
漸看阿閣銜初照。
瀲滟黄金波,
團圓白玉盤。
青天流影披紅蕊,
白露含輝泛紫蘭。
紫蘭紅蕊西風起,
九衢夾道秋如水。
錦幌高褰香霧濃,
瑣闈斜映輕霞舉。
霧沉霞落天宇開,
萬戶千門月明裏。
月明皎皎陌西東,
柏寢岧嶢望不迷。
侯家臺榭光先滿,
戚裏笙歌影乍低。
濯濯芙蓉生玉沼,
娟娟楊柳覆金堤。
鳳凰樓上吹簫女,
蟋蟀堂中織錦妻。
別有深宮閉深院,
年年歲歲愁相見。
金屋螢流長信階,
綺櫳燕入昭陽殿。
趙女通宵侍禦床,
班姬此夕悲團扇。
秋來明月照金微,
榆黄沙白路逶迤。
征夫塞上行憐影,
少婦窗前想畫眉。
上林鴻雁書中恨,
北地關山笛裏悲。
書中笛裏空相憶,
幾見盈虧淚沾臆。
紅閨貌減落春華,
玉門腸斷逢秋色。
春華秋色遞如流,
東家怨女上妝樓。
流蘇帳卷初安鏡,
翡翠帘開自上鉤。
河邊織女期七夕,
天上嫦娥奈九秋。
七夕風濤還可渡,
九秋霜露迥生愁。
九秋七夕須臾易,
盛年一去真堪惜。
可憐揚彩入羅幃,
可憐流素凝瑤席。
未作當壚賣酒人,
難邀入座援琴客。
客心對此嘆蹉跎,
烏鵲南飛可奈何。
江頭商婦移船待,
湖上佳人挾瑟歌。
此時憑欄垂玉箸,
此時滅燭斂青娥。
玉箸青娥苦緘怨,
緘怨含情不能吐。
麗色春妍桃李蹊,
遲輝晚媚菖蒲浦。
與君相思在二八,
與君相期在三五。
空持夜被貼鴛鴦,
空持暖玉擎鸚鵡。
青衫泣掩琵琶弦,
銀屏忍對箜篌語。
箜篌再彈月已微,
穿廊入闥靄斜輝。
歸心日遠大刀折,
極目天涯破鏡飛。

Phiên âm

Trường An[1] nguyệt,
Ly ly xuất hải kiều.
Dao kiến Tằng Thành[2] ẩn bán luân,
Tiệm khan a các[3] hàm sơ chiếu.
Liễn diễm hoàng kim ba,
Đoàn loan bạch ngọc bàn.
Thanh thiên lưu ảnh phi hồng nhuỵ,
Bạch lộ hàm huy phiếm tử lan.
Tử lan hồng nhuỵ tây phong khởi,
Cửu cù[4] giáp đạo thu như thuỷ.
Cẩm hoảng cao khiên hương vụ nồng,
Toả vi[5] tà ánh khinh hà cử.
Vụ trầm hà lạc thiên vũ khai,
Vạn hộ thiên môn minh nguyệt lý.
Nguyệt minh giảo giảo mạch tây đông,
Bách Tẩm[6] điều nghiêu vọng bất mê.
Hầu gia đài tạ quang tiên mãn,
Thích lý[7] sinh ca ảnh sạ đê.
Trạc trạc phù dung sinh ngọc chiểu[8],
Quyên quyên dương liễu phú kim đê.
Phụng Hoàng lâu[9] thượng xuy tiên nữ,
Tất xuất đường[10] tiền chức cẩm thê[11].
Biệt hữu thâm cung bế thâm viện,
Niên niên tuế tuế sầu tương kiến.
Kim ốc[12] huỳnh lưu Trường Tín[13] giai,
Khởi lung[14] yến[15] nhập Chiêu Dương[16] điện.
Triệu nữ thông tiêu thị ngự sàng,
Ban Cơ[17] thử tịch bi đoàn phiến.
Thu lai minh nguyệt chiếu Kim Vi[18],
Du hoàng sa bạch lộ uy di.
Chinh phu tái thượng hành lân ảnh,
Thiếu phụ song tiền tưởng hoạ mi.
Thương Lâm[19] hồng nhạn thư trung hận,
Bắc địa quan sơn địch lý bi.
Thư trung địch lý không tương ức,
Kỷ kiến doanh khuy lệ chiêm ức.
Hồng khuê mạo giảm lạc xuân hoa,
Ngọc Môn[20] trường đoạn phùng thu sắc.
Xuân hoa thu sắc đệ như lưu,
Đông gia oán nữ thướng trang lâu.
Lưu Tô trướng[21] quyển sơ an kính,
Phỉ thuý liêm[22] khai tự thượng câu.
Hà biên Chức Nữ kỳ thất tịch,
Thiên thượng Thường Nga nại cửu thu[23].
Thất tịch phong đào hoàn khả độ,
Cửu thu sương lộ quýnh sinh sầu.
Cửu thu thất tịch tu du dị,
Thịnh niên nhất khứ chân kham tích.
Khả lân dương thái nhập la vi,
Khả lân lưu tố ngưng dao tịch.
Vị tác đương lô mại tửu nhân[24],
Nan yêu nhập toạ viên cầm khách.
Khách tâm đối thử thán sa đà,
Ô thước nam phi[25] khả nại hà.
Giang đầu thương phụ[26] di thuyền đãi,
Hồ thượng giai nhân hiệp cầm ca.
Thử thời bằng lan thuỳ ngọc trợ[27],
Thử thời diệt chúc liễm thanh nga.
Ngọc trợ thanh nga khổ giam oán,
Giam oán hàm tình bất năng thổ.
Lệ sắc xuân nghiên đào lý khê,
Trì huy vãn mị xương bồ[28] phố.
Dữ quân tương tư tại nhị bát,
Dữ quân tương kỳ tại tam ngũ.[29]
Không trì dạ bị thiếp uyên ương,
Không trì noãn ngọc[30] kình anh vũ.
Thanh sam khấp yểm tỳ bà huyền[31],
Ngân bình[32] nhẫn đối không hầu[33] ngữ.
Không hầu tái đàn nguyệt dĩ vi,
Xuyên lang nhập thát ái tà huy.
Quy tâm nhật viễn đại đao chiết[34],
Cực mục thiên nhai phá kính[35] phi.

Dịch nghĩa

Trăng Trường An
Từ từ dựng lên từ núi ngoài biển
Trông từ xa bị Tằng Thành che khuất nửa vầng
Đầu tiên chiếu sáng vào hành lang các tầng lầu
Mặt trăng tròn như mâm ngọc trắng
Gợn sóng vàng lăn tăn
Trời xanh còn rớt lại một chấm nhuỵ hồng
Sương ngậm ánh sáng pha lan hồng
Nhuỵ mầu lan hồng gió thu nổi
Các ngả đường đều mang mầu thu
Tấm màn gấm cuốn cao sương bay hương ngát
Ráng còn rớt ánh qua cửa chạm vòng
Sương chìm ráng tắt trời mở rộng
Nghìn nhà vạn cửa nhuốm ánh trăng
Trăng vằng vặc sáng từ đông sang tây
Lầu Bách Tẩm vời vợi nhìn cũng không mờ
Lầu tạ các hầu tràn sáng trước
Nhà các hoàng thân quốc thích đàn hát in bóng nhấp nhô
Hoa sen mơn mởn mọc trong ao ngọc
Liễu thướt tha rủ bóng trên đê vàng
Cô gái thổi tiêu trên lầu phượng hoàng
Tiếng dế kêu trước nhà người vợ dệt gấm
Còn có những cung sâu viện kín khác
Hằng năm chỉ còn gặp nỗi sầu
Nhà vàng, đom đóm bay thềm cung Trường Tín
Lồng son én bay vào điện Chiêu Dương
Triệu nữ thâu đêm hầu giường ngự
Ban Cơ đêm đó làm thơ quạt thu sang để tỏ nỗi buồn
Trăng thu sáng chiếu núi Kim Vi
Cây du lá đổ vàng, cát trắng đường ngoằn ngoèo
Bóng chinh phu đi ngoài biên ải thật đáng thương
Người vợ trẻ vẽ lông mày trước song
Nỗi hận trong thư chim hồng nhạn đem về Thương Lâm
Tiếng tiêu buồn nơi quan sơn đất Bắc
Thư và sáo đều là nhớ nhung
Thấy nhiều nước mắt ướt cả vạt áo
Cô gái phòng khuê hao dần vẻ đẹp
Mỗi độ thu về người nơi Ngọc Quan muốn đứt ruột
Ngày thu, nhan sắc trôi như nước chảy
Cô gái hàng xóm hờn dỗi bước lên lầu trang điểm
Trướng Lưu Tô cuốn cao, gương soi vừa đặt
Bức rèm chim chả tự lên móc
Chức Nữ bên sông Ngân chờ đêm thất tịch
Hằng Nga ở trên trời chịu đựng cả mùa thu
Sóng gió thất tịch còn có thể vượt qua
Sương thu lạnh chỉ sinh thêm nỗi buồn
Mùa thu, thất tịch là khoảnh khắc trôi qua
Tuổi trẻ trôi qua thật là tiếc
Thương cho ánh trăng xế vào màn
Thương cho ánh sáng trắng đậu trên chiếu ngọc
Chưa làm người đứng quày bán rượu
Thì làm sao mời được khách đánh đàn
Lòng khách thấy vậy chỉ than lần lữa
Ô thước bay về nam thì làm thế nào?
Ở bến sông, người kỹ nữ dừng thuyền đợi
Người đẹp trên hồ đánh đàn hát
Lúc bấy giờ tựa vào lan can chỉ còn sa lệ
Lúc bấy giờ tắt nến khép hàng mi
Nước mắt hàng mi khổ vì mang nỗi sầu tủi
Mang nỗi sầu tủi, biết vậy không nói ra được
Con đường mùa xuân rực hoa đào hoa mận
Ánh chiều tà hắt lên bãi xương bồ
Cùng với chàng nhớ đến ngày mười sáu
Hẹn với chàng vào đêm rằm
Chỉ uổng đêm ôm chăn có hình uyên ương
Chỉ uổng cầm ngọc ấm hình anh vũ
Vạt áo xanh đẫm lệ che giây đàn tỳ bà
Chỉ còn nói với bình phong bạc và đàn không hầu
Khi gẩy đàn không hầu thì trăng đã gầy
Ánh trăng man mác chiếu qua hành lang vào cửa
Lòng muốn về ngày xa đại đao gẫy
Mảnh gương vỡ bay về nơi chân trời ngút tầm mắt

Bản dịch (của Bản dịch của Lê Xuân Khải)

Trăng Trường An mọc từ núi biển
Tằng Thành xa cao chắn nửa vầng
Thềm lầu nhuốm trước ánh trăng
Mâm tròn bạch ngọc sóng vàng lăn tăn
Chấm nhuỵ đỏ in nền xanh thẫm
Lan hồng pha sương ngậm ánh ngày
Lan hồng nhuỵ đỏ gió tây
Đường to ngõ hẻm nhuốm đầy sắc thu
Bức màn gấm vén cao sương ngát
Ráng nhẹ trôi mầu hắt cửa hoa
Sương chìm trời rộng bao la
Nghìn nhà vạn cửa gần xa trăng lồng
Trăng vằng vặc tây đông sáng tỏ
Bách Tẩm cao trông rõ chẳng nhoà
Trăng đầy nhà các hầu gia
Thấp cao thích lý đàn ca chiếu vào
Sen rực rỡ trong ao ngọc nở
Trên đê vàng liễu rủ thướt tha
Phượng Hoàng tiêu gái ngân xa
Não nùng dệt gấm trước nhà dế kêu
Lại có những cung sâu biệt viện
Năm lại năm số phận hẩm hiu
Nhà vàng, Trường Tín huỳnh soi
Lầu son cánh én dập dìu Chiêu Dương
Đêm Triệu nữ hầu giường ngự suốt
Đêm Ban Cơ đề quạt sầu bi
Thu sang trăng chiếu Kim Vi
Du vàng cát trắng đường đi ngoằn ngoèo
Bóng chinh phu dãi chiều biên ải
Vợ trẻ tô mi lại trước song
Thượng Lâm thư nhạn hận lòng
Tiếng tiêu đất Bắc não nùng quan san
Thư, tiêu gửi vô vàn thương nhớ
Đã thấy nhiều lệ nhỏ đầy vơi
Phòng khuê tuổi trẻ nhạt phai
Thu sang não ruột người ngoài Ngọc Môn
Như nước chảy tuổi xuân thu sắc
Gái nhà đông hận bước lên lầu
Trướng Tô cuốn gương vừa lau
Bức rèm cánh chả cuốn cao trước nhà
Chức Nữ bên Ngân Hà đêm bẩy
Nàng Hằng Nga ở vậy suốt thu
Sóng gió đêm bẩy rồi qua
Suốt thu lạnh lẽo sương sa trạnh sầu
Thu, đêm bẩy qua mau chốc lát
Tuổi trẻ qua nghĩ thật đáng than
Chênh chênh trăng xế vào màn
Dãi trên chiếu ngọc trắng ngần ánh trăng

Vẫn kém ai mở hàng rượu bán
Mời sao nên khách nắn cung đàn
Trạnh lòng ai thấy lữa lần
Về nam ô thước biết làm ra sao
Thương phụ chờ cắm sào gác mái
Dạo đàn ca cô gái trên hồ
Tựa lan lệ giỏ bấy giờ
Bấy giờ tắt nến mi thu nhắm nghiền
Mi, nước mắt triền miên sầu khổ
Mang nỗi niềm biết ngỏ vào đâu
Đường xuân tươi thắm mận đào
Ánh chiều dãi nhạt xương bồ bãi xa
Cùng chàng nhớ ngày là mười sáu
Hẹn cùng chàng trăng náu đêm rằm
Chăn uyên ương uổng đêm đêm
Ngọc ấm anh vũ nhiều lần nâng lên
Vạt áo xanh che đàn khi khóc
Đàn không hầu bình bạc làm khuây
Không hầu đàn dạo trăng gầy
Chênh chênh man mác dãi ngoài hành lang
Nỗi mong về ngày càng xa lắc
Gương vỡ bay ngút mắt chân trời
Qua ánh trăng, tác giả đã nêu số phận của con người không phân biệt, từ quý tộc đến thứ dân, có buồn, vui, hạnh phúc, suốt cả chiều dài lịch sử, từ Tần Hán, quá các triều đại, kẻ khóc người cười.

[1] Đây chỉ kinh đô.
[2] Theo thần thoại, có chín tầng thành trên núi Côn Lôn, tầng trên nhất là Tằng Thành, còn gọi là Thiên Đình, nơi ở của Thiên Đế.
[3] Lầu gác bốn mặt có hành lang.
[4] Đường thông đi các ngả.
[5] Cửa chạm khắc các vòng ngoắc vào nhau.
[6] Tên đài do Tề Cảnh Công thời Xuân Thu xây cất. Đài hiện còn ở huyện Quảng Nhiêu, Sơn Đông.
[7] Nơi ở của hoàng thân quốc thích.
[8] Ao ngọc, gọi cho đẹp.
[9] Lộng Ngọc, con gái Tần Mục Công cùng ở với Tiêu Sử, trên lầu Phụng Hoàng thổi tiêu, sau cùng cưỡi phượng về cõi tiên.
[10] Chỉ tiếng dế kêu buồn khi thu sang ở trước nhà.
[11] Đậu Thao thứ sử Tần Châu đời Tiền Tần, vợ là Tô Huệ nhớ chồng, dệt gấm thành bài Chức cẩm hồi văn, gửi cho chồng.
[12] Chỉ việc Hán Vũ Đế muốn xây nhà vàng cho em họ là A Kiều.
[13] Tên cung nhà Hán, nơi thái hậu thường ở. Sau khi Ban tiệp dư, phi của Hán Thành Đế thất sủng, ở cung Trường Tín để hầu thái hậu.
[14] Cửa sổ hoa đẹp.
[15] Là chim én, cũng chỉ Triệu Phi Yến, sủng phi của Hán Thành Đế.
[16] Tên cung nhà Hán, nơi Thành Đế và Triệu Phi Yến ở.
[17] Sau khi Ban tiệp dư thất sủng, ở cung Trường Tín, làm bài Oán ca hành lấy cái quạt khi thu sang bị bỏ rơi để gửi nỗi oán tình.
[18] Tên núi ở biên cương mạn tây bắc vào thời Tần Hán, nay gọi là núi A Nhĩ Thái, ở phía bắc Tân Cương, tây Mông Cổ.
[19] Tức Thượng Lâm uyển, vườn cũ thời Tần, đến thời Hán Vũ Đế mở rộng, dấu cũ nay ở vùng phụ cận Trường An, Thiểm Tây. Hai câu này dùng việc Tô Vũ bị giữ ở Hung Nô, sau sứ nhà Hán nói dối Thiền Vu Hung Nô là bắt được tin thư của Tô Vũ do hồng nhạn mang về.
[20] Tên cửa quan thời cổ, đặt từ thời Hán Vũ Đế, dấu cũ nay ở Đôn Hoàng, Cam Túc.
[21] Màn có tua kết bằng sợi ngũ sắc.
[22] Bức rèm có dắt lông chả làm trang sức.
[23] Chín mươi ngày mùa thu.
[24] Chỉ Trác Văn Quân bỏ trốn theo Tư Mã Tương Như, mở lò nấu rượu ở Lâm Cùng. Dùng điển này chỉ số phận gái mới goá không bằng Trác Văn Quân.
[25] Từ bài Đoản ca hành của Tào Tháo: “Nguyệt minh tinh hy, Ô thước nam phi”, hình dung phiêu bạt, không nơi nương tựa.
[26] Dùng việc người con gái đánh đàn tỳ bà trong bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị.
[27] Chỉ nước mắt.
[28] Loài cây sống ở bên nước.
[29] Nhị bát và tam ngũ là ngày 16 và ngày 15, tức hai ngày trăng đẹp nhất trong tháng.
[30] Truyền thuyết Kỳ Vương đời Đường có noãn ngọc yên, cưỡi lên thấy ấm.
[31] Lấy ý trong bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị.
[32] Bình phong bằng bạc.
[33] Loại nhạc khí có giây thời cổ.
[34] Người xưa đeo vòng vào đầu đao trận, có ý là”hoàn hương” (quay về quê). Đại đao chiết tức là không có ngày về quê.
[35] Chỉ vầng trăng khuyết.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Hà Cảnh Minh » Minh nguyệt thiên