16/09/2021 17:05Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Ký Tiết tam lang trung Cứ
寄薛三郎中據

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 08/03/2014 15:58

 

Nguyên tác

人生無賢愚,
飄颻若埃塵。
自非得神仙,
誰免危其身。
與子俱白頭,
役役常苦辛。
雖為尚書郎,
不及村野人。
憶昔村野人,
其樂難具陳。
藹藹桑麻交,
公侯為等倫。
天未厭戎馬,
我輩本常貧。
子尚客荊州,
我亦滯江濱。
峽中一臥病,
瘧癘終冬春。
春復加肺氣,
此病蓋有因。
早歲與蘇鄭,
痛飲情相親。
二公化為土,
嗜酒不失真。
余今委修短,
豈得恨命屯。
聞子心甚壯,
所過信席珍。
上馬不用扶,
每扶必怒嗔。
賦詩賓客間,
揮灑動八垠。
乃知蓋代手,
才力老益神。
青草洞庭湖,
東浮滄海漘。
君山可避暑,
況足采白蘋。
子豈無扁舟,
往復江漢津。
我未下瞿塘,
空念禹功勤。
聽說松門峽,
吐藥攬衣巾。
高秋卻束帶,
鼓枻視青旻。
鳳池日澄碧,
濟濟多士新。
餘病不能起,
健者勿逡巡。
上有明哲君,
下有行化臣。

Phiên âm

Nhân sinh vô hiền ngu,
Phiêu diêu nhược ai trần.
Tự phi đắc thần tiên,
Thuỳ miễn nguy kỳ thân.
Dữ tử câu bạch đầu,
Dịch dịch thường khổ tân.
Tuy vi thượng thư lang,
Bất cập thôn dã nhân.
Ức tích thôn dã nhân,
Kỳ lạc nan câu trần.
Ái ái tang ma giao,
Công hầu vi đẳng luân
Thiên vị yêm nhung mã,
Ngã bối bản thường bần.
Tử thượng khách Kinh Châu,
Ngã diệc đới giang tân.
Giáp trung nhất ngoạ bệnh,
Ngược lệ chung đông xuân.
Xuân phục gia phế khí,
Thử bệnh cái hữu nhân.
Tảo tuế dữ Tô[1], Trịnh[2],
Thống ẩm tình tương thân.
Nhị công hoá vi thổ,
Thị tửu bất thất chân.
Dư kim uỷ tu đoản,
Khởi đắc hận mệnh truân.
Văn tử tâm kham tráng,
Sở quá tín tịch trân.
Thướng mã bất dụng phù,
Mỗi phù tất nộ sân.
Phú thi tân khách gian,
Huy tửu động bát ngân.
Nãi tri cái đại thủ,
Tài lực lão ích thần.
Thanh Thảo, Động Đình hồ,
Đông phù thương hải thần.
Quân sơn[3] khả tịch thự,
Huống túc thái bạch tần.
Tử khởi vô biên chu,
Vãng phục Giang Hán[4] tân.
Ngã vị há Cù Đường,
Không niệm Vũ công huân.
Thính thuyết Tùng Môn giáp,
Thổ dược lãm y cân.
Cao thu khước thúc đới,
Cổ duệ thị thanh mân.
Phượng Trì nhật trừng bích,
Tế tế đa sĩ tân.
Dư bệnh bất năng khởi,
Kiện giả vật thuân tuần.
Thượng hữu minh triết quân,
Hạ hữu hành hoá thần.

Dịch nghĩa

Đời người không có hiền với ngu,
Bay tung như bụi bậm.
Trừ hạng như thần tiên,
Thì ai là kẻ không bị nguy đến thân?
Với anh cùng là kẻ đầu bạc,
Vất vả thường đau khổ.
Tuy là chàng có quan chức,
Nhưng chẳng bằng người nhà quê.
Nhớ đến lúc trước người nhà quê,
Cái vui của họ khó nói hết được.
Trồng trọt thu trúng mùa,
Công hầu có khác đâu.
Trời chưa chán chiến tranh,
Bọn mình vốn gốc nghèo.
Anh còn là khách nơi Kinh Châu,
Tôi cũng đang ứ hự ở bến sông.
Trong vùng kẽm có lần mắc bệnh,
Sốt li bì hết đông xuân.
Mùa xuân lại thêm bệnh suyễn,
Cái bệnh này có nguyên do.
Lúc trẻ cùng Tô, Trịnh,
Uống say tràn, tình rất thân thiết.
Hai ông này nay đã thành đất,
Riêng tôi ham rượu mà nhất định không bỏ.
Tôi nay chịu mang cái xấu của mình,
Đâu dám than là vì số mệnh.
Nghe nói anh lòng còn hăng hái,
Điều họ tin tưởng phẩm hạnh của anh.
Leo ngựa không nhờ vịn,
Có ai nâng thì anh gắt bẳn liền.
Làm thơ giữa đám khách,
Vung chén rượu rung động tám phía.
Mới biết tay già đời,
Tài với sức càng già càng gân.
Hồ Thanh Thảo, hồ Động Đình,
Phía đông trôi tới bờ biển xanh.
Núi Quân có thể dùng làm nơi tránh nóng,
Lại còn đủ đi hái rau tần trắng nữa.
Anh há không có con thuyền nhỏ sao,
Để đi lại trên bến sông vùng Giang Hán.
Tôi chưa xuống tới Cù Đường,
Mơ màng nhớ đến công lao của ông Vũ.
Nghe nói kẽm Tùng Môn,
Ói thuốc ướt áo khăn.
Sang thu bèn khăn gói,
Chống chèo ta đi coi trời xanh.
Ao phượng ngày càng xanh biếc,
Ùn ùn nhiều bạn văn mới.
Tôi bệnh không ngồi dậy được,
Kẻ khoẻ chớ chậm trễ.
Trên có vua sáng chói,
Dưới có bề tôi thi hành chính sự.

Bản dịch của Nhượng Tống

Người đời không dại, khôn
Lẩn vẩn như bụi trần
Trừ phi hạng thần tiên
Ai khỏi nguy đến thân?
Cùng bác đều bạc đầu
Chật vật bao gian truân
Tuy làm chức lang trung
Không bằng người thôn dân
Nhớ trước người thôn dân
Sung sướng bao nhiêu phần
Vui vẻ thú điền viên
Công, hầu dễ theo chân
Trời chưa chán loạn lạc
Chúng mình thường thiếu ăn
Châu Kinh bác lưu lạc
Bến sông tôi lữa lần
Trong Thục ốm một trận
Sốt rét đông qua xuân
Xuân lại thêm ho hen
Nào phải không nguyên nhân
Lúc trẻ cùng Tô, Trịnh
Chén say tình quen thân
Tôi giờ mặc sống, chết
Lận đận dám ăn năn
Nghe bác hăng hái lắm
Đời quý bác vô ngần
Lên ngựa ai đỡ bác
Bác gắt bảo "Không cần"
Thơ viết giữa tiệc đông
Tiếng thổi khắp xa, gần
Mới biết bậc trùm đời
Càng già càng tinh thần
Động Đình, hồ Cỏ Xanh
Bể cả kề đông lân
Núi Quân nghỉ mát tốt
Lại tiện hái rau tần
Bác phải không sẵn thuyền
Đi lại thăm cố nhân?
Tôi nhớ công vua Vũ
Cù Đường bao cách ngăn
Nghe chuyện thác Tùng Môn
Sặc thuốc đầm áo khăn
Thu sang sẽ sắm thuyền
Dòng xanh đò dẫm dần
Ao Phượng sáng long lanh
Họp đông bọn làng ván
Tôi ốm đành nằm xó
Bác khoẻ chớ lần chần
Dưới có các minh quan
Trên có bậc minh quân
(Năm 767)

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
[1] To Đoan, hiệu Nguyên Minh.
[2] Trịnh Kiền, hiệu Quảng Văn.
[3] Thuộc huyện Nhạc Dương, tỉnh Hồ Nam, ở ngay trong hồ Động Đình.
[4] Chỉ Quỳ Châu, nằm trong lưu vực sông Trường Giang và Hán Thuỷ.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Ký Tiết tam lang trung Cứ