28/11/2020 13:06Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Đồng Quan lại
潼關吏

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 17/06/2005 12:53

 

Nguyên tác

士卒何草草,
筑城潼關道。
大城鐵不如,
小城萬丈餘。
借問潼關吏:
「修關還備胡?」
要我下馬行,
為我指山隅:
「連雲列戰格,
飛鳥不能逾。
胡來但自守,
豈復憂西都。
丈人視要處,
窄狹容單車。
艱難奮長戟,
萬古用一夫。」
「哀哉桃林戰,
百萬化為魚。
請囑防關將,
慎勿學哥舒。」

Phiên âm

Sĩ tốt hà thảo thảo?
Trúc thành Đồng Quan[1] đạo.
Đại thành thiết bất như,
Tiểu thành vạn trượng dư.
Tá vấn Đồng Quan lại:
"Tu quan hoàn bị Hồ?"
Yêu ngã há mã hành,
Vị ngã chỉ sơn ngung:
"Liên vân liệt chiến cách,
Phi điểu bất năng du.
Hồ lai đãn tự thủ,
Khởi phục ưu tây đô[2].
Trượng nhân thị yếu xứ,
Chính hiệp dung đan xa.
Gian nan phấn trường kích,
Vạn cổ dụng nhất phu".
"Ai tai Đào Lâm[3] chiến,
Bách vạn hoá vi ngư.
Thỉnh phúc phòng quan tướng,
Thận vật học Kha Thư!"

Dịch nghĩa

Quân lính bao khó nhọc
Đắp thành trên đường Đồng Quan
Thành lớn, sắt không vững bằng
Thành nhỏ, dài hơn vạn trượng
Ướm hỏi người nha lại ở Đồng Quan
(Rằng) vẫn sửa sang cửa ải để đề phòng giặc Hồ?
(Người nha lại) mời ta xuống ngựa cùng đi
Chỉ cho ta xem phía góc núi:
Hàng chiến luỹ kéo dài như liền với mây
Chim bay cũng không vượt được
Giặc Hồ dù có đến cũng tự giữ lấy
Không còn phải lo cho Tây Đô nữa
- Ông xem những chỗ hiểm yếu:
Hẹp chỉ vừa một chiếc xe đi
Cung cái kích dài cũng khó khăn
Từ xưa vẫn chỉ dùng một người cũng giữ được
Thương thay! Trận Rừng Đào
Trăm vạn quân đều hoá cá
Xin dặn ông tướng giữ cửa ải:
Coi chừng! Chớ bắt chước Kha Thư!

Bản dịch của mailang

Lính tráng sao như cỏ?
Đường Đồng Quan lập đồn.
Đồn to, sắt thép kém,
Đồn nhỏ, trượng muôn hơn.
Nhân hỏi Đồng Quan lại,
"Chặn Hồ, sửa ải quan,"
Xuống yên dắt lão dạo,
Chỉ lão phía non ngàn.
"Mây tiếp liền thành lũy,
Chim muông khó lọt sang.
Hồ vào, tự giữ được,
Tây phủ há lo toan.
Cụ thấy nơi đây hiểm,
Gíao dài khó dọc ngang.
Mỗi xe qua lối hẹp,
Muôn thưở một người ngăn"
Trăm vạn quân thành cá,
Trận Đào Lâm xót than,
Nhắn cho tướng giữ ải,
Đừng học Kha Thư Hàn.
(Năm 759)

Ba bài thơ Đồng Quan lại 潼關吏, Tân An lại 新安吏 và Thạch Hào lại 石壕吏 được gọi là Tam lại 三吏.

[1] Một cửa ải rất hiểm yếu ngày xưa, tây giáp núi Hoa Sơn, đông giáp Đào Lâm.
[2] Tức Trường An.
[3] Một địa điểm gần Đồng Quan, nơi Kha Thư Hàn, tướng nhà Đường bị An Lộc Sơn đánh tan, hơn mươi vạn quân chết đuối ở sông Hoàng Hà.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Đồng Quan lại