29/05/2024 12:15Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Để Di Lăng Chí Hỉ
抵夷陵志喜

Tác giả: Trần Thị Tập (II) - 陳是集

Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Minh
Đăng bởi tôn tiền tử vào 21/03/2019 10:21

 

Nguyên tác

黃陵廟口猿三嚥,
至喜亭前酒一盃。
身向昭君看里渡,
航從人鮓峽邊來。

Phiên âm

Hoàng Lăng miếu[1] khẩu viên tam yết,
Chí Hỉ đình tiền tửu nhất bôi.
Thân hướng Chiêu Quân[2] khan lý độ,
Hàng tòng Nhân Trả[3] giáp biên lai.

Bản dịch của phanlang @www.tvvn.org

Miếu Hoàng Lăng vượn kêu ba tiếng,
Đình Chí Hỉ rượu uống một ly.
Ngước nhìn qua bến Minh Phi,
Vượt eo Nhân Trả thuyền đi đến rồi.
Di Lăng nằm phía đông nam Nghi Xương, Hồ Bắc, cạnh kẽm Tây Lăng trên bờ sông Trường Giang, trước có tên Tây Lăng sau đổi thành Di Lăng. Đình Chí Hỉ được xây dựng thời Tống, sau được thái thú Hạp Châu là Chu Khánh Cơ 朱慶基 trùng tu, gồm 3 đình hình chữ phẩm họp lại gọi là Chí Hỉ đình, để phu thuyền và khách buôn có chỗ dừng chân nghỉ ngơi.

[1] Trước có tên Hoàng Ngưu miếu, Hoàng Ngưu từ, nằm đoạn giữa kẽm Tây Lăng, bờ nam sông Trường Giang.
[2] Bến suối Hương Khê 香溪 (một chi lưu phía bắc của sông Trường Giang) nơi tương truyền Chiêu Quân thường ra rửa phấn son trang điểm. Chiêu Quân (khoảng 52 trCN - 19 trCN) quê tại Tỉ Quy, Nam Quận (nay là huyện Hưng Sơn, thành phố Nghi Xương, tỉnh Hồ Bắc), tên Tường 嬙, tự Chiêu Quân 昭君, nhũ danh Hạo Nguyệt 皓月, về sau, đời Tấn đổi thành Minh Phi 明妃, Vương Minh Quân 王明君 để khỏi kỵ huý tên Chiêu của vua Tấn Tư Mã Chiêu. Khi 15 tuổi tuyển nhập làm cung nữ nhưng không được Hán Nguyên Đế sủng hạnh (vì không hối lộ hoạ sư Mao Diên Thọ nên hình vẽ xấu), năm 19 tuổi đưa sang làm vợ chúa Nam Hung Nô, Thiền Vu Hô Hàn Tà 呼韩邪 (theo sách lược hoà thân từ thời Lưu Bang vì Hung Nô rất mạnh, Hán triều phải triều cống vàng bạc, vải lụa, mỹ nhân, trâu bò, lừa ngựa,... hàng năm cho Hung Nô), sinh được một con trai. Ba năm sau Hô Hàn Tà bịnh chết, Chiêu Quân viết thư xin vua Hán cho trở về, vua Hán không chịu, Chiêu Quân buộc phải theo tục lệ Hung Nô, vua cha chết phải lấy vua con (con của đời trước) là Thiền Vu Phục Chu Luy 復株累, sinh được 2 con gái. Được 11 năm Phục Chu Luy chết, hai năm sau Chiêu Quân cũng bệnh chết.
[3] Còn gọi là Nhân Trả úng 人鮓瓮, Nhân Tiên úng 人鮮瓮, một kẽm rất nguy hiểm, phía tây Tỉ Quy, Nghi Xương, nằm phía dưới kẽm Cù Đường, đá núi nhô ra đến 2/3 sông. Thuyền phía trên xuống thường bị nước đẩy xuống va vào đá, thuyền gãy người chết, dân đi thuyền hay giết súc vật thả xuống cúng thần sông. Có người gọi Nhân Trả giáp là Quỷ Môn quan.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Trần Thị Tập (II) » Để Di Lăng Chí Hỉ