16/07/2020 20:30Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Biệt Sái thập tứ trước tác
別蔡十四著作

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 16/02/2015 18:38

 

Nguyên tác

賈生慟哭後,
寥落無其人。
安知蔡夫子,
高義邁等倫。
獻書謁皇帝,
志已清風塵。
流涕灑丹極,
萬乘為酸辛。
天地則創痍,
朝廷當正臣。
異才復間出,
周道日惟新。
使蜀見知己,
別顏始一伸。
主人薨城府,
扶櫬歸咸秦。
巴道此相逢,
會我病江濱。
憶念鳳翔都,
聚散俄十春。
我衰不足道,
但願子意陳。
稍令社稷安,
自契魚水親。
我雖消渴甚,
敢忘帝力勤。
尚思未朽骨,
復睹耕桑民。
積水駕三峽,
浮龍倚長津。
揚舲洪濤間,
仗子濟物身。
鞍馬下秦塞,
王城通北辰。
玄甲聚不散,
兵久食恐貧。
窮谷無粟帛,
使者來相因。
若憑南轅吏,
書劄到天垠。

Phiên âm

Giả sinh[1] đỗng khốc hậu,
Liêu lạc vô kì nhân.
An tri Sái phu tử,
Cao nghĩa mại đẳng luân.
Hiến thư yết hoàng đế,
Chí dĩ thanh phong trần.
Lưu thế sái đan cực,
Vạn thặng vi toan tân.
Thiên địa tắc sang di,
Triều đình đương chính thần.
Dị tài phục gián xuất,
Chu đạo nhật duy tân.
Sứ Thục kiến tri kỷ,
Biệt nhan thuỷ nhất thân.
Chủ nhân hoăng Thành phủ[2],
Phù thấn qui Hàm Tần.
Ba đạo thử tương phùng,
Hội ngã bệnh giang tân.
Ức niệm Phụng Tường đô,
Tụ tán nga thập xuân.
Ngã suy bất túc đạo,
Đãn nguyện tử ý trần.
Sảo linh xã tắc an,
Tự khiết ngư thuỷ thân.
Ngã tuy tiêu khát thậm,
Cảm vương đế lực cần.
Thượng tư vị hủ cốt,
Phục đổ canh tang dân.
Tích thuỷ giá Tam Giáp,
Phù long ỷ Trường Tân.
Dương linh hồng đào gian,
Trượng tử tế vật thân.
Yên mã há Tần tái,
Vương thành thông bắc thần.
Huyền giáp[3] tụ bất tán,
Binh cửu thực khủng bần.
Cùng cốc vô túc bạch,
Sứ giả lai tương nhân.
Nhược bẵng nam viên[4] lại,
Thư trát đáo thiên ngân.

Dịch nghĩa

Giả Nghị sau hồi khóc rống,
Lang bạt không có ai là người quen.
Sao biết được ngài họ Sái,
Nghĩa khí đạt tới mức cao vời.
Dâng thư lên nhà vua,
Ý cốt là làm sáng tỏ vấn đề.
Nước mặt ướt thềm vua,
Thân vạn cỗ xe mà bị khốn quẫn.
Trời đất tất đau thương,
Triều đình trông chờ ở các quan.
Cứ cách đời lại có tài lạ xuất hiện,
Đường lối nhà Chu ngày càng được đổi mới.
Khi ông đi sứ vùng Thục, gặp được người hiểu mình,
Ngay từ lúc đầu đã tỏ ra tình thân đặc biệt.
Viên cấp trên này chết nơi Thành Đô phủ,
Ông theo đưa áo quan về tới Hàm Dương thuộc vùng Tần.
Đường đi qua vùng Ba khi đó có gặp nhau,
Tôi bị bệnh nơi ven sông.
Nhớ lại hồi nơi vua đóng ở Phụng Tường,
Thế mà chia cách đã mười năm rồi.
Tôi lận đận chẳng muốn nói làm gì,
Nhưng theo ý ông mà kể ra thôi.
Chẳng giúp gì được nhiều cho sự yên bình của đất nước,
Tôi tự thấy hệt như tình cá nước vậy.
Tôi tuy bị chứng tiêu khát (tiểu đường) nặng,
Nhưng đâu dám quên việc giúp vua.
Còn nghĩ rằng xương chưa nát,
Lại thường thấy dân làm ruộng nuôi tầm.
Xuôi dòng xuống vùng Tam Giáp.
Như con rồng nghỉ ở Trường Tân.
Lướt thuyền trong quãng sóng lớn,
Dựa con kéo cái thân tàn.
Ngựa thồ xuống gần vùng Tần,
Kinh đô gần sao bắc.
Lính mặc giáp đen nên quy tụ vào một điểm, chớ phân tán mỏng,
Nuôi lính lâu sợ cùn nhụt đi.
Nơi xa xôi không có gạo vải,
Thay mặt nhà vua tới tìm nguyên nhân.
Nếu cứ căn cứ vào những viên quan,
Thì lệnh vua sẽ tới cùng trời.

Bản dịch của Phạm Doanh

Giả sinh sau khi khóc,
Lưu lạc không người quen.
Nào biết ông họ Sái,
Nghĩa khí vượt hẳn lên.
Dâng thư trước hoàng đế,
Ý đã quyết vạch trần.
Nước mắt thấm thềm đỏ,
Vì vua mà nhọc nhằn.
Trời đất đang rối loạn,
Nhà nước cần các quan.
Tài lạ cách đời hiện,
Lối Chu ngày duy tân.
Đi Thục gặp tri kỷ,
Đã rõ ngay tình thân.
Lãnh đạo chết nơi quận,
Theo xác về Hàm, Tần.
Vùng Ba nay cùng gặp,
Thấy tôi bến sông nằm.
Thời Phụng Tường còn nhớ,
Chia tay cỡ mười năm.
Tôi chán chẳng muốn nói,
Vì ông tôi xin bàn.
Giúp đất nước có ít,
Tình tự thấy keo sơn.
Tôi tuy tiểu đường nặng,
Giúp vua nào dám quên.
Còn nghĩ xương chưa nát,
Lại thấy bao nông dân.
Lội nước xuống Tam Giáp,
Rồng nổi nép Trường Tân.
Giong thuyền chốn sóng lớn,
Đi đứng con đỡ đần.
Nam Tần cưỡi ngựa xuống,
Kinh đô, sao bắc gần.
Kị binh chớ chia mỏng,
Nuôi lính lâu sợ cùn
Nơi xa không gạo vải,
Phái sứ tới điều nghiên.
Nếu cử quan lếu láo,
Sắc lệnh nằm trong ngăn.
(Năm 766)

[1] Giả Nghị (200 tr.CN - 168 tr.CN), văn học gia người Lạc Dương đời Hán, có tài văn học và lập thuyết chính trị, Hán Văn Đế phong làm bác sĩ. Sau vua nghe lời dèm pha, đổi ông xuống Trường Sa làm Trường Sa vương thái phó.
[2] Chỉ Nghiêm Vũ.
[3] Giáp có miếng sắt che chở. Đây là đội kỵ binh tinh nhuệ do Đường Thái Tông cho lập ra.
[4] Do chữ “nam viên bắc triệt” 南轅北轍 (xe đi nam mà chạy lối lên bắc), ý chỉ không theo đúng chính sách, bảo lên bắc lại xuống nam.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Biệt Sái thập tứ trước tác