14/11/2019 23:20Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Đồng Kim thập nhất Bái Ân du Thê Hà tự vọng Quế Lâm chư sơn
同金十一沛恩游棲霞寺望桂林諸山

Tác giả: Viên Mai - 袁枚

Thể thơ: Cổ phong (cổ thể); Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thanh
Đăng bởi tôn tiền tử vào 25/04/2019 22:01

 

Nguyên tác

寺山不入中原界,
走入窮邊才逞怪。
桂林天小青山大,
山山都立青天外。
我來六月游棲霞,
天風拂面吹霜花。
一輪白日忽不見,
高空都被芙蓉遮。
山腰有洞五里許,
秉火直入沖烏鴉。
怪石成形千百種,
見人欲動爭谽谺。
萬古不知風雨色,
一群仙鼠依為家。
出穴登高望眾山,
茫茫雲海墜眼前。
疑是盤古死後不肯化,
頭目手足骨節相鈎連。
又疑女媧氏一日七十有二變,
青紅隱現隨雲煙。
蚩尤噴妖霧,屍羅袒右肩,
猛士植竿髮,鬼母戲青蓮。
我知混沌以前乾坤毀,
水沙激蕩風輪顛。
山川人物熔在一爐內,
精靈騰踔有萬千,
彼此游戲相愛憐。
忽然剛風一吹化為石,
清氣既散濁氣堅。
至今欲活不得,欲去不能,
只得奇形詭狀蹲人間。
不然造化纵有千手眼,
手眼亦難一一施雕鐫。
而況唐突真宰豈無罪,
何以耿耿群飛欲刺天。
金臺公子酌我酒,
聽我狂言呼『否否』。
更指群峰印證之,
出入白雲亂招手。
幾陣南風吹落日,
騎馬同歸醉兀兀。
我本天涯萬里人,
愁心忽掛西斜月。

Phiên âm

Tự sơn bất nhập Trung Nguyên giới[1],
Tẩu nhập cùng biên tài sính quái.
Quế Lâm thiên tiểu thanh sơn đại,
Sơn sơn đô lập thanh thiên ngoại.
Ngã lai lục nguyệt du Thê Hà,
Thiên phong phất diện suy sương hoa[2].
Nhất luân bạch nhật hốt bất kiến,
Cao không đô bị phù dung già.
Sơn yêu hữu động ngũ lý hử,
Bỉnh hoả trực nhập xung ô nha.
Quái thạch thành hình thiên bách chủng,
Kiến nhân dục động tranh hàm nha.
Vạn cổ bất tri phong vũ sắc,
Nhất quần tiên thử y vi gia.
Xuất huyệt đăng cao vọng chúng sơn,
Mang mang vân hải truỵ nhãn tiền.
Nghi thị Bàn Cổ[3] tử hậu bất khẳng hoá,
Đầu mục thủ túc cốt tiết tương câu liên.
Hựu nghi Nữ Oa[4] thị nhất nhật thất thập hữu nhị biến,
Thanh hồng ẩn hiện truỵ vân yên.
Xi Vưu[5] phún yêu vụ, Thi La[6] đản hữu kiên,
Mãnh sĩ[7] thực can phát, quỷ mẫu[8] hý thanh liên.
Ngã tri hỗn độn[9] dĩ tiền càn khôn huỷ,
Thuỷ sa kích đáng phong luân[10] điên.
Sơn xuyên nhân vật dung tại nhất lô nội,
Tinh linh đằng xước hữu vạn thiên,
Bỉ thử du hý tương ái liên.
Hốt nhiên cương phong nhất xuy hoá vi thạch,
Thanh khí ký tán trọc khí kiên.
Chí kim dục hoạt bất đắc, dục khứ bất năng,
Chỉ đắc kì hình nguỵ trạng đôn nhân gian.
Bất nhiên tạo hoá túng hữu thiên thủ nhãn,
Diệc nhan nhất nhất thi điêu thuyên.
Nhi huống đường đột chân tể khởi vô tội,
Hà dĩ cảnh cảnh quần phi dục thích thiên.
Kim đài công tử chước ngã tửu,
Thính ngã cuồng ngôn hô “phủ phủ”.
Cánh chỉ quần sơn ấn chứng chi,
Xuất nhập bạch vân loạn chiêu thủ.
Kỷ trận nam phong suy lạc nhật,
Kỵ mã đồng quy tuý ngột ngột.
Ngã bản thiên nhai vạn lí nhân,
Sầu tâm hốt quải tây tà nguyệt.

Dịch nghĩa

Chùa và núi không vào địa giới Trung Nguyên
Đi vào nơi tận cùng càng thấy lạ lùng
Trời Quế Lâm nhỏ núi xanh lớn
Núi lại núi đều đứng bên ngoài trời
Tháng sáu ta đến chơi chùa Thê Hà
Gió thổi hoa cự sương lướt qua mặt
Vầng mặt trời bỗng không thấy
Trời đều bị hoa sen chắn
Lưng núi có động dài năm dặm
Đốt đuốc vào quạ bay tứ tung
Hình đá lạ trăm nghìn loại
Nhìn thấy người muốn cựa toan gầm ghè
Muôn thuở không biết mặt mũi gió mưa
Một bầy chuột tiên tựa vào làm nhà
Ra khỏi động lên cao nhìn mọi núi
Mênh mông biển mây nằm dưới chân
Ngờ là bàn cổ sau khi chết không chịu hoá
Đầu mắt tay chân khớp sương móc nối nhau
Lại ngờ đó là Nữ Oa biến hoá bẩy mươi hai lần trong một ngày
Cầu vồng xanh ẩn hiện dưới mây mù
Xi Vưu phun mù yêu Thi La trễ áo vai phải
Tóc dũng sĩ dựng như gậy quỷ mẫu đùa chơi với hoa sen
Ta biết trước hỗn độn chưa thành trời đất
Nước cát tung toé bánh xe gió ngả nghiêng
Núi sông người vật nóng chảy trong một cái lò
Tinh linh nhảy nhót có hang vạn nghìn
Đùa rỡn thương yêu nhau
Bỗng một trận gió thổi biến thành đá
Khí trong tan ra khí dục đọng lại
Đến nay muốn sống không được muốn đi không thể
Đành phải hoá thành những hài hình quái gở ngồi ở đời
Nếu không tạo hoá dẫu có nghìn tai mắt
Cũng khó mà gọt giũa hết được
Huống chi dưới vòm trời nhiều truyện xảy ra há đâu không tội
Lấy gì răn đe được những tinh linh muốn bay chọc trời
Công tử Kim Đài rót rượu cho ta
Nghe ta nói nhảm hô lên không không
Lại chỉ vào những ngon núi để chứng tỏ ý mình
Vẫy tay rối lên trước mây trắng đến lại bay đi
Mấy cơn gió nam thổi rơi mặt trời
Cưỡi ngựa cùng về say bí tỉ
Ta với ngươi nơi chân trời vạn dặm
Lòng buồn bỗng treo vào vầng trăng xế về tây

Bản dịch (của Bản dịch của Lê Xuân Khải)

Núi chùa chẳng Trung Nguyên vào cõi
Đi đến cùng lạ quái càng phô
Quế lâm trời nhỏ núi to
Núi nào cũng thấy đứng nhô ngoài trời
Ta Thê Hà lên chơi kè cuối
Mặt lướt qua gió thổi hoa sen
Bỗng không thấy mặt trời lên
Bầu trời đều bị núi chen khuất nhìn
Dư năm dặm động xuyên lưng núi
Đốt đuốc vào quạ vội bay tung
Trăm nghìn dáng đá lạ lùng
Thấy người muốn cự dữ hung gằm ghè
Muôn thuở không thấy nghe mưa gió
Bầy chuột tiên dựa đó làm nhà
Ra ngoài lên ngắm núi xa
Biển mây bát ngát là là dưới chân
Ngờ Bàn Cổ còn thân sau chết
Móc vào nhau đầu mắt chân tay
Nữ oa lại ngờ họ này
Tài làm biến bảy mươi hai trong ngày
Cầu vồng xanh dưới mây mù mọc
Mù yêu phun Trác Lộc Xi Vưu
Thi La áo trễ vai đầu
Đùa sen mẹ quỷ tóc sào Hạ, Ô
Trước hỗn độn mơ hồ trời đất
Phong luân nghiêng nước cát bay mù
Núi sông người vật một lò
Tinh linh nhảy nhót hét hô vạn ngàn
Đây đó chơi tương thân tương ái
Thành đá ngay một thổi cương phong
Khí trong bốc khí đục đông
Nay sống không được cũng không được dời
Chỉ kì quái trên đời ngồi đó
Nếu không thì tạo hoá dẫu tài
Dẫu cho nghìn mắt nghìn tay
Khó mà uốn nắn nổi bầy tinh linh
Huống gầm trời tội tình luôn sẵn
Lấy gì được lũ muốn chọc trời
Kim đài công tử rượu mời
Nghe ta chẳng chẳng những lời hô điên
Lại chỉ các non liền làm chứng
Mây đến đi cuống quýt tay vời
Gió nam thổi mặt trời rơi
Say mèm trên ngựa cương lơi bước dời
Người vạn dặm chân trời ta vốn
Bỗng đem buồn treo tận trăng tây
Kim Bái Ân chưa rõ là ai. Thê Hà là núi ở ngoại thành Quế Lâm, lưng núi có chùa, sau chùa có suối, đều lấy tên là Thê Hà.

[1] Quế Lâm ở Quảng Tây, nguyên là vùng đất biên viễn cho nên nói như vậy.
[2] Tức cự sương hoa, tên khác của phù dung, ở đây dùng phù dung để ví với núi đẹp.
[3] Nhân vật mở mang trời đất trong huyền thoại. Theo Thuật dị ký, Bàn Cổ chết, đầu làm tứ nhạc, mắt làm mặt trăng mặt trời, râu tóc làm cỏ cây. Hai câu này thị ý là các đỉnh núi chon von đứng sững giống như Bàn Cổ sau khi chết biến thành.
[4] Theo truyền thuyết bà từng luyện đá vá trời. Vương Dật chú trong Thiên vấn thuộc Sở từ: Nữ Oa đầu người thân rắn, một ngày biến hoá 72 lần.
[5] Thủ lĩnh của chin tộc người Lê trong truyền thuyết, từng đánh nhau với hoàng đế ở Trác Lộc. Xi Vưu phun mù lớn, hoàng đế làm xe chỉ nam đề phá.
[6] Thuật sĩ của nước Mộc Tư trong truyền thuyết, thạo về thuật huyễn hoặc, nhả mây mù làm tối đen mấy dặm.
[7] Chỉ Hạ Dục và Ô Hoạch trong truyền thuyết. Tây kinh phú của Trương Hành đời Hán có câu: “Dục Hoạch chi trù thực phát như can” (Bọn Dục Hoạch tóc dựng như sào).
[8] Truyền thuyết mẹ quỷ ở núi Tiểu Ngu ngoài Nam Hải, có thể sinh ra quỷ trời đất, một lần sinh ra mười con quỷ, sáng sinh ra chiều mẹ lại ăn thịt. Câu này ý là cây ở núi râm tốt như tóc của manh sĩ cổ đại, đỉnh núi lạ tựa như quỷ mẫu và tiểu quỷ đùa giỡn trong lùm hoa sen (là đỉnh núi).
[9] Theo Tam ngũ lịch kỷ của Từ Chỉnh: “Thiên địa hỗn độn như kê tử, Bàn Cổ sinh kỳ trung, vạn bát thiên tuế, thiên địa khai tịch, dương thanh vi thiên, âm trọc vi địa, Bàn Cổ cư kỳ trung” (Khi còn hỗn độn, trời đất giống như quả trứng gà, Bàn Cổ sinh ra ở giữa một vạn tám nghìn năm, khi đất trời được mở mang, dương trong làm trời, âm đục làm đất, Bàn Cổ ở giữa).
[10] Bánh xe gió, là chữ của nhà Phật cho là thế giới có phong luân nắm giữ, nên biến hoá vận động.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Viên Mai » Đồng Kim thập nhất Bái Ân du Thê Hà tự vọng Quế Lâm chư sơn