18/04/2021 02:40Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Kinh Kha cố lý
荊軻故里

Tác giả: Nguyễn Du - 阮攸

Thể thơ: Thất ngôn cổ phong; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 20/12/2005 00:53

 

Nguyên tác

白虹貫日天漫漫,
風蕭蕭兮易水寒。
歌聲慷慨金聲烈,
荊軻從此入秦關。
入秦關兮持匕首,
六國深仇一引手。
殿上卒然一震驚,
左右手搏王環柱。
階下舞陽如死人,
神勇毅然惟獨君。
縱然不殺秦皇帝,
也算古今無比倫。
怪底行蹤原市隱,
曾與燕丹無夙分。
殺身只為受人知,
徒得田光輕一刎。
可憐無辜樊於期,
以頭借人無還時。
一朝枉殺三烈士,
咸陽天子終巍巍。
燕郊一望皆塵土,
秋日秋風滿官路。
市上歌聲不復聞,
易水波流自今古。
故里枳棘縱復橫,
只有殘碑猶未傾。
莫道匕首更無濟,
楬竿斬木為先聲。

Phiên âm

Bạch hồng[1] quán nhật thiên man man,
Phong tiêu tiêu hề Dịch Thuỷ[2] hàn.
Ca thanh khảng khái kim thanh liệt,
Kinh Kha tòng thử nhập Tần quan.
Nhập Tần quan hề trì chuỷ thủ,
Lục quốc thâm cừu nhất dẫn thủ.
Điện thượng thốt nhiên nhất chấn kinh,
Tả hữu thủ bác vương hoàn trụ[3].
Giai hạ Vũ Dương[4] như tử nhân,
Thần dũng nghị nhiên duy độc quân.
Túng nhiên bất sát Tần hoàng đế,
Dã toán cổ kim vô bỉ luân.
Quái để hành tung nguyên thị ẩn,
Tằng dữ Yên Đan[5] vô túc phận.
Sát thân chỉ vi thụ nhân tri,
Đồ đắc Điền Quang[6] khinh nhất vẫn.
Khả liên vô cô Phàn Ô Kỳ[7],
Dĩ đầu tá nhân vô hoàn thì.
Nhất triêu uổng sát tam liệt sĩ[8],
Hàm Dương[9] thiên tử chung nguy nguy.
Yến giao nhất vọng giai trần thổ,
Thu nhật thu phong mãn quan lộ.
Thị thượng ca thanh bất phục văn,
Dịch Thuỷ ba lưu tự kim cổ.
Cố lí chỉ cức tung phục hoành,
Chỉ hữu tàn bi do vị khuynh.
Mạc đạo chuỷ thủ canh vô tế,
Yết can trảm mộc[10] vi tiên thanh.

Dịch nghĩa

Cầu vồng trắng vắt ngang mặt trời, bầu trời mênh mang
Gió thổi hắt hiu, chừ, sông Dịch lạnh
Tiếng ca khảng khái, tiếng thép rít
Kinh Kha vào ải Tần ở chỗ này
Vào ải Tần, chừ, cầm chuỷ thủ
Thù sâu sáu nước gửi vào một tay
Trên cung điện bỗng nhiên kinh động
Quan tả hữu tay không bắt, vua chạy vòng quanh cột
Dưới thềm, Vũ Dương như người đã chết
Thần dũng hiên ngang chỉ có mình ông
Dù chẳng giết được Tần hoàng đế
Tính xưa nay không có người sánh bằng
Lạ thay, vốn dấu kín hành tung giữa chợ
Không từng có duyên nợ gì với Yên Đan
Liều thân chỉ vì được người biết đến mình
Luống được Điền Quang nhẹ đâm cổ chết
Khá thương Phàn Ô Kỳ chẳng tội tình gì
Cho mượn đầu không hẹn kỳ trả lại
Một sớm ba liệt sĩ chết oan
Mà ngôi thiên tử ở Hàm Dương cuối cùng vẫn cao ngất ngưởng
Đất Yên nhìn toàn đất bụi
Nắng thu gió thu đầy quan lộ
Trong chợ không còn nghe tiếng ca nữa
Sông Dịch chảy mãi xưa nay
Làng cũ cây chỉ, cây gai mọc ngang dọc
Chỉ có cái bia tàn chưa đổ
Chớ nói rằng cây chuỷ thủ chẳng ích gì
Nó dẫn đầu cho việc trương sào, chặt cây (làm cờ, làm giáo khởi nghĩa)

Bản dịch của Đặng Thế Kiệt

Trời rộng mênh mông, mống trắng ngang
Hắt hiu gió, chừ, sông Dịch lạnh căm
Tiếng ca khảng khái, tiếng kim rít
Tự đó Kinh Kha vượt ải Tần
Vượt ải Tần, chừ, cầm chủy thủ
Thù sâu sáu nước tay này giữ
Điện vua bỗng chốc cuống cuồng lên
Vua chạy vòng quanh, quan hoảng sợ
Thềm dưới, cứng đờ gã Vũ Dương
Hiên ngang hùng dũng chỉ mình ông
Dẫu không giết được Tần hoàng đế
Kim cổ nào ai dám sánh cùng
Lạ nhỉ, hành tung dấu phố chợ
Yên Đan nào có đâu duyên nợ
Liều thân giúp kẻ nhận ra mình
Chịu chết Điền Quang đâm lủng cổ
Phàn Ô Kỳ hỡi, tội tình chi
Cho mượn đầu không biết hạn kỳ
Một sớm chết oan ba liệt sĩ
Hàm Dương thiên tử vẫn uy nghi
Nhìn xem cát bụi thành Yên đó
Nắng gió thu tràn trên khắp lộ
Phố chợ không còn nghe tiếng ca
Chảy hoài sông Dịch từ muôn thuở
Làng cũ góc gai mọc dọc ngang
Vẫn chưa nghiêng đổ tấm bia tàn
Chớ cho chủy thủ là vô ích
Vót giáo, trương cờ tự đó vang
Kinh Kha người nước Vệ, được Thái tử Đan nước Yên tin dùng, sang Tần uy hiếp Tần vương Chính 秦王政 (tức Tần Thuỷ Hoàng 秦始皇).

[1] Cầu vồng (mống) trắng. Tục ngữ Việt Nam: “Mống vàng thời nắng, mống trắng thời mưa. Mống cao gió táp, mống rạp mưa dầm”.
[2] Sông phát nguyên từ Dịch Huyện, tỉnh Hà Bắc, chảy về phía đông, đến địa phận huyện An Định. Kinh Kha hát: “Phong tiêu tiêu hề Dịch Thuỷ hàn, Tráng sĩ nhất khứ bất phục phản” 風蕭蕭兮易水寒, 壯士一去不復返 (Gió vi vu chừ, sông Dịch lạnh tê, Tráng sĩ một đi chừ, không trở về).
[3] Bị Kinh Kha đuổi theo để đâm, vua Tần chạy quanh cái cột.
[4] Tần Vũ Dương được Thái tử Yên Đan 燕丹 cử đi theo giúp sức Kinh Kha. Tới trước bệ rồng, Vũ Dương thất sắc run rẩy.
[5] Thái tử Đan, con của Yên vương Hỉ 燕王喜, bị đưa sang Tần 秦 làm con tin, giận Tần vương là bạn chơi hồi nhỏ, bỏ trốn về nước.
[6] Người tiến cử Kinh Kha với Thái tử Đan, tự đâm cổ chết để khích lệ Kinh Kha và tỏ chữ tín với Yên Đan.
[7] Tướng nhà Tần, trốn sang nước Yên, được Thái tử Đan trọng đãi. Kinh Kha xin lấy đầu Phàn Ô Kỳ để dâng vua Tần lấy lòng tin.
[8] Tức Điền Quang, Phan Ô Kỳ và Kinh Kha.
[9] Kinh đô nước Tần. Tức Vị Thành cũ, ở phía đông bắc Trường An thị 長安市, tỉnh Thiểm Tây 陝西 bây giờ. “Hàm Dương thiên tử” chỉ vua Tần
[10] Tần Thuỷ Hoàng vô đạo. Trần Thiệp cùng Ngô Quảng khởi nghĩa. Dân hưởng ứng chặt cây làm gậy, trương sào làm cờ. (Sử ký Tư Mã Thiên, Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dịch, Lá Bối xuất bản, Saigon, Việt Nam, 1972, trang 541-544).

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Du » Kinh Kha cố lý