10/12/2019 04:04Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Biệt tam tử
別三子

Tác giả: Trần Sư Đạo - 陳師道

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Bắc Tống, Liêu
Đăng bởi hongha83 vào 13/04/2009 07:00

 

Nguyên tác

夫婦死同穴,
父子貧賤離。
天下寧有此,
昔聞今見之。
母前三子後,
熟視不得追。
嗟乎胡不仁,
使我至於斯。
有女初束髮,
已知生離悲。
枕我不肯起,
畏我從此辭。
大兒學語言,
拜揖未勝衣。
喚耶我欲去,
此語那可思。
小兒襁褓間,
抱負有母慈。
汝哭猶在耳,
我懷人得知。

Phiên âm

Phu phụ tử đồng huyệt[1],
Phụ tử bần tiện ly.
Thiên hạ ninh hữu thử,
Tích văn kim kiến chi.
Mẫu tiền tam tử hậu,
Thục thị bất đắc truy.
Ta hồ hồ bất nhân,
Sử ngã chí ư tư.
Hữu nữ sơ thúc phát,
Dĩ tri sinh ly bi.
Chẩm ngã bất khẳng khởi,
Uý ngã tòng thử từ.
Đại nhi học ngữ ngôn,
Bái ấp vị thăng y[2].
Hoán gia: “Ngã dục khứ”,
Thử ngữ na khả tư.
Tiểu nhi cưỡng bảo gián,
Bão phụ hữu mẫu từ.
Nhữ khốc do tại nhĩ,
Ngã hoài nhân đắc tri.

Dịch nghĩa

Vợ chồng khi chết chung mộ
Nghèo hèn cha con phải xa nhau
Trong thiên hạ sao lại có việc như thế
Trước từng nghe, nay mới thấy
Mẹ trước, ba con sau
Không theo đi được chỉ biết nhìn chăm chăm
Than ôi! Trời sao lại bất nhân
Để ta đến nông nỗi này
Con gái vừa buộc tóc
Đã biết nỗi buồn sống phải chia ly
Gục vào ta không chịu đứng dậy
Sợ từ nay cha con không được gặp nhau
Trai lớn đang học nói
Chào vái chưa đến tuổi mặc áo
Gọi cha, con đi đây
Biết nghĩ gì khi nghe lời nói này
Trai nhỏ còn nằm trong tã lót
Bế ẵm có mẹ hiền
Tiếng con khóc còn vẳng trong tai cha
Người ngoài làm sao hiểu nổi lòng ta.

Bản dịch (của Bản dịch của Nguyễn Khắc Phi)

Vợ chồng, chết chung huyệt
Cha con, nghèo chia ly
Há có chuyện lạ kỳ?
Xưa nghe, nay mới biết
Đứng lặng nhìn ngấu nghiến
Mẹ trước ba con sau
Trời kia bất nhân quá!
Ta đến nỗi này sao?
Bó tóc, con gái thơ
Biết xa nhau là khổ
Gục đầu mãi vào lòng
Sợ ta từ đây bỏ
Thằng lớn mới bị bỏ
Chưa biết chắp tay vái
Cứ gào: "Con đi cơ!"
Lời nói ấy... ai ngờ!
Thằng út cuốn bọc tã
Mẹ hiền ủ trong tay
Tiếng khóc vẳng bên tai
Ta nhớ hoài... ai rõ?
Bài này tuyển từ Hậu Sơn thi chú quyển 1, bản Tứ khổ toàn thư. Trần Sư Đạo nhà nghèo, thậm chí “nang vô phó y” (trong đẫy không có áo để thay), năm Nguyên Phong thứ 7, bố vợ là Quách Khái làm Để hình ở Tây Xuyên, đưa vợ và ba con của ông vào Thục. Vì còn mẹ già, ông không thể cùng đi, chỉ biết chịu đựng đau buồn chia tay với vợ con.

Nguồn: Lịch sử văn học Trung Quốc (tập 2), NXB Giáo Dục, 2003
[1] Trong Thi kinh (Vương phong, Đại xa) tả về lễ của vợ chồng có: “Cốc tắc dị thất, Tử tắc đồng huyệt” (Lúc sống thì ở khác nhà, Lúc chết chôn cùng một huyệt).
[2] Ý là trẻ còn nhỏ. Thăng y là chỉ trẻ đã lớn, có thể mặc áo đội mũ khi hành lễ. Trong Sử ký (Tam vương thế gia) có câu: “Hoàng tử lại thiên năng thăng y xu bái” (Hoàng tử nhờ trời đã có thể mặc vừa áo bước lạy).

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Trần Sư Đạo » Biệt tam tử