12/08/2022 22:17Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Nguyệt Đức giang hoài cổ

Tác giả: Đoàn Nguyễn Tuấn - 段阮俊

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Tây Sơn
Đăng bởi Locnguyenthanh12 vào 19/12/2016 23:34

 

Phiên âm

Lưỡng ngạn phong cương nhất thuỷ lưu,
Liên vân trĩ điệp, mãn giang thu.
Tinh kỳ ảnh lộng long xà[1] quật,
Huyền quản thanh dư cổ giác lâu.
Dã trĩ phi phi thanh thảo lũng,
Sa âu phiếm phiếm lục tần châu.
Ngư ông bất khởi Tân Đình[2] cảm,
Cao xướng Thương Lương[3] vãn độ đầu.

Dịch nghĩa

Đôi bờ là đồi núi, một dòng ở giữa,
Tường luỹ cao liền mây, vẻ thu đầy sông.
Bóng cờ quạt lay động cả hang rồng rắn,
Tiếng đàn sáo còn văng vẳng cùng tiếng trống, tiếng tù và trên lầu.
Gà đồng lượn lờ trên đồng cỏ xanh,
Le le dập dềnh bên bãi tần biếc.
Ông chài chẳng hề cảm thấy nỗi hận Tân Đình,
Vẫn cao giọng hát bài ca Thương Lương trên bến chiều.

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Đồi núi đôi bờ giữa một dòng,
Liền mây tường luỹ thu đầy sông.
Bóng cờ quạt lay hang rồng rắn,
Đàn, sáo, trống, ốc vẳng gác phòng.
Bay lượn gà đồng trên ruộng cỏ,
Bãi tần bên vịt trời chạy rong.
Ông chài chẳng thấy Tân Đình hận,
Vẫn hát Thương Lương chiều bến đông.
Nguồn: Thơ văn Đoàn Nguyễn Tuấn (Hải Ông thi tập), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1982
[1] Đây ý muốn tả rồng rắn thêu trên cờ. Thơ Đường có câu: “Nghiêm trung kỳ ảnh động long xà” nghĩa là bóng cờ ở trong nghiên mực, rồng rắn lay động.
[2] Nay thuộc tỉnh Giang Tô. Khi nhà Đông Tấn sắp mất nước, phải chạy xuống miền nam, các tỉnh ở trung nguyên lần lượt bị mất... Các bậc cựu thần và sĩ phu nhà Tấn họp nhau uống rượu ở Tân Đình. Chu Khải nói: “Phong cảnh vẫn thế, non sông không còn như xưa”, mọi người đều rơi lệ... Vương Đạo nói: “Chúng ta phải hết sức phò tá nhà vua lấy lại đất nước, việc gì phải bắt chước người tù nước Sở, nhìn nhau mà khóc, phỏng có ích gì?” Từ đấy, người ta thường dùng chữ “Tân Đình lệ” để chỉ hạt lệ yêu vua cũ, nước xưa, có chí khôi phục triều đại sắp hay đã đổ.
[3] Tức là bài Nhụ tử ca nói trong sách Mạnh Tử: “Thương Lương chi thuỷ thanh hề, khả dĩ trạc ngã anh; Thương Lương chi thuỷ trọc hề, khả dĩ trạc ngã túc” (Nước sông Thương Lương trong ư? Ta giặt dải mũ ta! Nước sông Thương Lương đục ư? Ta rửa chân ta!...) Thương Lương là một khúc hát ca ngợi cảnh nhàn tản của người đi ở ẩn.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đoàn Nguyễn Tuấn » Nguyệt Đức giang hoài cổ